Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Lời nói từ tâm


Người bệnh, ngoài việc điều trị từ bác sĩ, chế độ ăn uống bồi dưỡng, rất cần sự quan tâm, thăm hỏi, động viên, chia sẻ từ người thân, bạn bè. Một ánh mắt, một nụ cười, một vẻ mặt thành tâm cũng nói lên rất nhiều điều giúp bệnh nhân có thêm nghị lực, niềm tin để vượt qua cơn đau.

Mấy ngày nay, tôi bị đau lưng do thoát vị đĩa điệm, nên đi lại rất khó khăn. Để bớt đau, tôi thường nằm nghỉ ngơi. Có lần, vừa đi học (mẫu giáo) về, chạy nhanh vào phòng hởi tôi: “ông Ẩm ơi, ông Ẩm hết đau lưng chưa ?”


Một câu nói ngay thơ của cháu, làm tôi vô cùng xúc động, mọi cơn đau dường như biến mất, bởi đây là lời nói từ tâm của cháu tôi (tôi biết không ai bảo cháu nói lời đó).

Đối với người thân, bạn bè, sự thăm hỏi kịp thời, một lời động viên chân thành bao giờ và luôn luôn là một nghĩa cử bình dị nhưng có nghĩa, có tình, là thái độ ứng xử đẹp trong mối quan hệ giữa người và người.

Cũng cần lưu ý, lời ăn, tiếng nói, cử chỉ khi hỏi thăm bệnh không nên khách sáo, không như ban ơn cũng không là quyền lực, quan trọng ở sự thành tâm.

Viết cho con

Cần Thơ, ngày 30 tháng 06 năm 2016

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

Chúng tôi có một đại gia đình


Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có gia đình và có một quê hương để mà thương mà nhớ. Nơi ấy là nơi ta cất tiếng khóc chào đời có nhiều kỷ niệm của tuổi thơ với biết bao niềm vui, nổi buồn cho đến khi trưởng thành.

Tôi cũng sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo, nghèo lắm. Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống.

Từ lúc còn bé xíu xiu, tôi rất yêu cái cảm giác được cùng gia đình quây quần bên mâm cơm bốc khói, vừa thưởng thức những hương vị thơm ngon của món canh chua cá lóc do má nấu. Ăn canh chua cá lóc, nhấm nháp vị chua đặc trưng của me hòa lẫn vị thơm thơm bùi bùi của thịt cá lóc, vị thơm ngọt ngào của rau thơm, rau quế, vị mặn mà của nước mắm nguyên chất của quê hương.

Những ngày Tết, tôi thích nhất là nồi thịt kho với hột vịt do má nấu. Thịt ba rọi nửa nạc nửa mỡ, nước thịt trong ngần vương lớp mỡ trong veo, miếng thịt thơm, mềm mà không ngấy mới ngon. Nồi thịt kho ngon để nửa tháng vẫn còn thơm lừng. Món này ăn với cơm trắng và dưa giá rất ngon.


Khi trưởng thành, dù mỗi người mỗi nơi, nhưng năm nào cùng vậy, cứ ngày mùng một Tết là anh chị em chúng tôi về nhà để đón Tết cùng ba má. Con cháu về đông đủ, má tôi mừng ra mặt. Ngày Tết là ngày ba má, gia đình tôi vui vẻ nhất. Các anh, chị, em chúng tôi đều tề tựu đông đủ để vui Xuân, đón Tết cùng gia đình.

Hạnh phúc nhất, vui vẻ nhất trong những ngày Tết có lẽ là được ông bà, ba má lì xì, chúc phúc̀. Rồi các cháu, các con xúm lại quanh ba má tôi để mừng tuổi ông bà. Niềm hân hoan, niềm vui lúc này dâng trào nơi khoé mắt má tôi.

Có nỗi nhớ nào hơn là nỗi nhớ nhà, nhớ ba, nhớ má. 16 năm rồi, lúc đó tôi không còn nhỏ, đủ để hiểu mất mát ấy lớn thế nào! Đến nay, tôi vẫn chưa tin rằng, gia đình mình đã vĩnh viễn mất Ba!

Có những đêm dài thèm nghe lời ru của má, những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con... Nhưng đã 6 năm rồi gia đình mình vắng má. Không ai tin là má đã đi xa…!

Nhưng nhờ ơn đức của má ba, chúng tôi còn có một gia đình, một đại gia đình. Ở đây có anh, có chị, các em, các cháu. Đây vừa là cái nôi, vừa là mái ấm, vừa là trường học cho mọi thành viên trong đại gia đình.

Theo lối sinh hoạt đã thành thông lệ, mỗi tuần gặp gỡ nhau vào thứ bảy và chủ nhật, Đây cũng là dịp sum họp gia đình, vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn, vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách. Đây là truyền thống của gia đình tôi!

Thèm lắm được một lần trở về với gia đình tuổi thơ, nơi đó có hơi ấm của ba, có tình thương của má, có tiếng cười đùa của chị em tôi!



Viết nhân Ngày Gia đình Việt Nam
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 27 tháng 06 năm 2016

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

Má tôi thường nói: "Miếng ăn là miếng tồi tàn..."


Ngày xưa, cái tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Ngày ngày bắt ốc, hái rau. Có lần tham ăn rau đắng đồng tươi non xào với tép. Ăn nhiều đến bội thực, không làm gì nổi, chỉ biết nằm thở và nghe Má mắng: "Miếng ăn là miếng tồi tàn...". Thực ra tôi không phải tham ăn hay giành ăn, mà thấy ngon, nên cố ăn cho hết và Má tôi cũng chỉ mắng "yêu" mà thôi.


Ngày nay, đọc báo thấy nhiều chuyện thật đáng buồn cũng chỉ vì " miếng ăn..." Cảnh nhiều người chen lấn, xô đẩy khi ăn nhà hàng tự chọn, tranh ăn sushi miễn phí; hàng trăm người hôi beer mang về nhà trong tiếng van xin bất lực của người lái xe ở Biên Hòa;

“Miếng ăn là miếng tồi tàn”. Để được thưởng thức các món đặc sản, nhiều người đã phải chịu đựng những lời chửi mắng thô lỗ của chủ quán. “Cháo mắng”, “phở chửi”, “ốc lắm mồm”… đang được nhiều người nhắc tới như những thứ “thương hiệu” của quê hương.

Đáng xấu hổ, rất khó tin, nhưng có thật: chuyện 24 con dê, 1.250 con gà hỗ trợ cho hộ nghèo đã đi "lạc" vào nhà cán bộ. Số tiền hỗ trợ người nghèo mua bò, lợn...đã không đến tay người dân mà lần lượt theo nhau vào nhà cán bộ hoặc anh em, họ hàng của các cán bộ.

Những câu chuyện thật như bịa này đã khiến không ít người dân bức xúc, bất bình. Đến mức, tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội sáng 11-9, bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phải thốt lên: "Họ ăn của dân không từ một cái gì"

"Miếng ăn là miếng tồi tàn..." đã chỉ ra tính chất thấp hèn của con người xem "miếng ăn" là giá trị cuộc sống, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến sự thỏa mãn nhất thời về vật chất mà không quan tâm đến việc hoàn thiện tâm hồn.

Hơn thế nữa, nó còn là đầu mối khởi lên biết bao tranh chấp, giành giật trong xã hội, chỉ bởi vì thế thái nhân tình vẫn luôn nghĩ đến “miếng ăn”.

Một miếng sushi, một tô phở, một vài lon beer, một con dê, một vài con gà có thể làm cho họ ngon miệng trong chốc lát, có thu nhập khá hơn, nhưng tư cách, đạo đức của họ thì sao? Tranh giành "miếng ăn" cho mình thì liệu con cháu của mình sau này có hành xử như vậy hay không? Thật nhục nhã nhưng cũng thật đáng thương!

Viết cho con
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 08 tháng 04 năm 2015

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016

Má tôi thường dạy: "Lời nói chẳng mất tiền mua..."


Bạn tôi kể: Chuẩn bị về quê tảo mộ, tu chỉnh lại mộ phần tổ tiên với đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn, sự hiếu hạnh, thành kính với tổ tiên, ông bà trong tiết Thanh minh. Đây cũng là dịp con cháu sum họp gia đình, vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn, vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách.

Nhân dịp này, bạn tôi hỏi xin tiền bà xã ( vì lương hưu bà xã quản hết ) định mua về quê thùng beer và vài thứ linh tinh để "nhâm nhi" cùng con cháu.

Đang chờ xe đến rước, bà xã bạn tôi nói: "tiền mới đưa hết rồi sao? ", " còn mấy triệu để trả tiền điện, nước đó!" Tội nghiệp, bạn tôi cụt hứng, phải gọi tôi cầu cứu!

Thương cho bạn tôi, càng tội hơn cho vợ bạn. Vài trăm ngàn có giá trị gì mấy đâu, có đáng gì lắm đâu, mà cô ta lại buông lời nói như vậy. Mà lại nói trong cái cảnh "đạo nghĩa" thế này?


Một "lời nói" dù vô tình hay hữu ý, thì cũng làm bạn tôi chạnh lòng! Có còn lời nói nào khác hơn không? Hay hơn không? Tế nhị hơn nữa không? Có đó, nhiều, rất nhiều lời hay, ý đẹp. Nhưng phải học và phải biết "lựa lời mà nói ".

"Ăn" phải học, " nói " càng phải học. Vì " lời nói " là ngôn ngữ, là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp, nó là một phần quan trọng trong ứng xử giữa con người với nhau.

Ông bà ta vẫn thường dạy: "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Người khôn ngoan, chín chắn luôn nói lời hay, ý đẹp, tình cảm, dễ nghe.

" Lời nói " phản ánh vốn sống, sự hiểu biết, trình độ học vấn của mỗi người. " Lời nói " cũng là thước đo đạo đức của mọi người.

Ông bà ta quan niệm lời ăn, tiếng nói luôn gắn liền với lễ nghĩa, đạo lí, hiếu hỷ. Trong gia đình, ngoài xã hội, có người trên, kẻ dưới, có người già, người trẻ, cho nên muốn nói gì đều phải cân nhắc, phải “lựa lời”.

Tóm lại, trong trường hợp cụ thể này, nếu cô vợ bạn tôi nói: " đây, anh cầm mấy trăm mua quà về quê, còn một ít để em trả tiền điện, nước ". Tuyệt vời!



Viết cho con
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 07 tháng 04 năm 2015

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

Hồ sơ Biển Đông: Chính nghĩa thuộc về Việt Nam.



Theo báo Philippines, ngày 7 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (Hà Lan) có thể sẽ đưa ra phán quyết về đường lưỡi bò trên Biển Đông và sẽ có tác động đến các bên tranh chấp, trong đó có Việt Nam.

Theo các nhà quan sát, phán quyết sắp tới không chỉ tác động đến Philippines và Trung Quốc, mà sẽ có ảnh hưởng trên các nước tranh chấp khác, từ Malaysia, Philippines, cho đến Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long thuộc Đại học Maine ở Hoa Kỳ cho rằng tình huống mới đó sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam vận động quốc tế chống lại ý đồ thôn tính Biển Đông của Trung Quốc.

“Việt Nam cần khéo léo tranh thủ phán quyết của tòa án quốc tế để phá vỡ mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.”

Trước những động thái quyết đoán của Trung Quốc, nhiều tổ chức quốc tế đã chính thức lên tiếng phản đối ý đồ thôn tính Biển Đông của Trung Quốc.

Kết thúc hai ngày hội nghị thượng đỉnh tại Nhật Bản ngày 27 tháng 5 năm 2016, lãnh đạo các nước G7 đã ra tuyên bố chung, trong đó có đề cập đến vấn đề an ninh hàng hải.

Tuyên bố nêu rõ: “Chúng tôi rất quan ngại về tình hình ở biển Hoa Đông và biển Đông, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình”.

“Bất cứ tuyên bố chủ quyền nào cũng đều phải dựa trên luật pháp quốc tế và các nước cần tránh các hành động đơn phương làm gia tăng căng thẳng, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để tuyên bố chủ quyền”, tuyên bố nhấn mạnh.

Liên minh châu Âu (EU) cũng tuyên bố thống nhất quan điểm với Mỹ về cam kết bảo vệ tự do hàng hải, hàng không ở biển Đông. Đại diện thường trực của Pháp ở cộng đồng Thái Bình Dương nhấn mạnh: “Pháp sẽ hành động khi Trung Quốc vượt ranh giới".

Tại hội nghị đặc biệt ASEAN-Trung Quốc ngày 14 tháng 6 năm 2016, các ngoại trưởng ASEAN khẳng định : « Chúng ta không thể bỏ qua những diễn biến trên Biển Đông vì điều đó là một vấn đề quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc ».

Các nước trong khu vực từ Philippines, Singapore, Indonesia đến Việt Nam, và nhiều quốc gia khác, từ Mỹ, Nhật, Úc, cho đến Đức, Pháp, tất cả đều đã lên tiếng kêu gọi Trung Quốc chấm dứt những hoạt động gây hấn trên Biển Đông và phải tôn trọng phán quyết sắp tới của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye.

Trong khi đó, giới học giả cũng chia sẻ nhiều ý kiến về việc đưa các tranh chấp tại Biển Đông ra tòa án quốc tế. Các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông thế giới đã tỏ rõ thái độ, lên án mạnh mẽ trước sự leo thang và xem thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuy nhiên, với sự nỗ lực vận động của Trung Quốc một vài quốc gia, nhất là Nga một thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên hiệp quốc có quyền phủ quyết, ủng hộ lập trường của họ tại Biển Đông.

Theo đó, hãng thông tấn Nga Itar TASS ngày 21 tháng 6 năm 2016 dẫn lời ông Denisov nói với báo chí rằng, những cáo buộc Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông không có cơ sở thực tế.

Ngày 21 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng Campuchia Hun Sen tuyên bố không ủng hộ phán quyết của PCA.

"Đây không phải là vấn đề về luật pháp, nó hoàn toàn về chính trị. Tôi sẽ không ủng hộ bất kỳ phán quyết nào của tòa", AFP hôm qua dẫn lời thủ tướng Campuchia nói.

Trước đó, Báo Nikkei của Nhật Bản, ngày 29 tháng 5 năm 2016, tường thuật rằng Thủ Tướng Lào Thongloun Sisoulith đưa ra lời kêu gọi đàm phán song phương giữa các nước tranh giành chủ quyền để giải quyết các cuộc tranh chấp Biển Đông

Tuy nhiên, giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc Đại học Maine ở Hoa Kỳ cho rằng: “Việt Nam cần phải nói đó là vấn đề an ninh khu vực và thế giới, không phải song phương. Trung Quốc lấy đảo của Việt Nam, giết người Việt Nam đúng là dính đến Việt Nam nhưng bây giờ là vấn đề quốc tế.”

“Nếu Việt Nam đưa lý luận này ra trước quốc tế thì theo tôi nghĩ không những được sự ủng hộ của thế giới mà còn làm cho sự manh động của Trung Quốc cũng bớt đi.” RFI dẫn lời giáo sư Ngô Vĩnh Long.

Nhiều chuyên gia cho rằng lời nói và việc làm của Trung Quốc không bao giờ đi đôi với nhau và từ đặc trưng của quan hệ láng giềng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, chúng ta nên tranh thủ sự đoàn kết khu vực và quốc tế mới có thể chặn đứng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Vì chính nghĩa thuộc về Việt Nam.


Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 25 tháng 06 năm 2016

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

“Học ăn học nói…”


Ngày xưa, má tôi thường nói muốn nên người phải học: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Có lẽ không ít người sẽ hỏi: tại sao "chuyện nhỏ" vậy mà phải học?

Vâng, cuộc sống rất phong phú, muốn làm người tốt thì phải học, dù là "chuyện nhỏ", thậm chí rất nhỏ. Không chỉ học chữ, mà còn học làm người, học những điều hay, lẽ phải, biết đối nhân xử thế, biết tôn trọng phong tục, tập quán của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, thượng tôn các chuẩn mực giá trị của con người, của xã hội về lẽ phải, về cái đẹp, cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống...

Chúng ta, ai cũng biết ăn uống là dịp biểu lộ rõ rệt nhất tính cách của một con người. Qua việc ăn uống, chúng ta có thể biết con người ấy thuộc hạng người nào, giáo dục gia đình ra sao? Thế nhưng hiện nay, ăn uống, nói năng, giao tiếp đang có nhiều vấn đề cần bàn.

Thật sốt ruột khi nghe các quan chức khoe, họ thường dùng những chai rượu ngoại có giá hàng nghìn USD, hút một điếu xì gà có giá cả trăm USD, mà “xì gà, thú chơi của những “vị vua”, chỉ có đại gia mới đủ tiền “xài” nó”.

Có người còn tự hào nói trong nhà họ có đủ thứ của quý như mật gấu, nhân sâm, mật bò tót và cả máy mài để... mài sừng tê giác cho khách, nếu có say thì uống vào giải độc, giã rượu…

"Ăn" phải học, " nói " càng phải học. Vì "lời nói" là ngôn ngữ, là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp, nó là một phần quan trọng trong ứng xử giữa con người với nhau.

Ông bà ta vẫn thường dạy: "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Nói chuyện gì? Nói với ai? Nói ở đâu? Nói lúc nào? Vì vậy, khi giao tiếp, tùy theo đối tượng phải lựa lời mà nói, nói ngắn gọn, trọng tâm, chính xác, súc tích, dễ hiểu sẽ hấp dẫn và làm cho người nghe hài lòng.

Hãy nói những gì cần nói, đừng tranh giành để nói quá nhiều, quá khích. Người ít chữ thì hay nói nhiều; nhưng càng nói thì lại càng "lộ" ra một cái thùng "rỗng". Nói dai, nói dài, nói dại... chính là như vậy!

Một người khiêm tốn, cởi mở, chân thành, tự tin và thoải mái tốt hơn là một người quá sức khoe khoang, khoác lác, ngạo mạn. Biết lắng nghe cũng là cách để học, đồng thời cũng là sự khiêm tốn "tiếp thu" ý kiến của người khác.

Muốn nói hay thì phải học cách nói của nhiều người và tự mình rèn luyện, gọt giũa lời nói, diễn đạt lưu loát một cách tự tin. Nói bằng chính cái tâm, bằng kiến thức của chính mình. Rất tiếc, có nhiều người khi trước đám đông chỉ đọc những bài do người khác viết trước nên rất ít sức thuyết phục.

Trong giao tiếp hằng ngày cần sự cởi mở nhưng không quá ồn ào. Nên biết ca ngợi, biểu dương những mặt tốt của người khác. Khi làm phiền ai điều gì thì phải nói lời "xin lỗi" và ai giúp mình thì phải biết "cảm ơn" dù là điều nhỏ nhất.

Học ăn học nói, học gói học mở là học cách sống, phong cách ứng xử lịch thiệp, học những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nó liên quan đến vị thế với tư cách là một con người của xã hội. Tất nhiên, ngoài năng lực cần phải có cả cái tâm và cái tầm, sự dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước công việc.

“Học ăn, học nói, học gói, học mở” là lời khuyên không bao giờ cũ. Thế nhưng gần đây, những phát ngôn của quan chức luôn là nguyên nhân khiến dư luận dậy sóng như: “lỗi vắc-xin thì xử lý vắc-xin” "thiếu giường bệnh thì phải hỏi nhà nước"?! Hay "Bây giờ chỉ có chuyện trồng cây mà phải hỏi ý kiến dân! Tôi hỏi thế đất nước bây giờ động đến cái gì đi hỏi dân thì bầu ra chính quyền làm gì…” khiến dư luận vừa tức, vừa buồn cười.

Câu nói của dân gian có tác dụng răn dạy, giáo dục con người rất hay trong cuộc sống. Đó là bài học quý báu của cha ông để lại cho chúng ta những điều hay lẽ phải, muốn đạt kết quả cao phải học tập, rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng bản thân


Viết cho con
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 25 tháng 03 năm 2015

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2016

" Dạy con từ thuở còn thơ"


Ông bà, cha mẹ, người thân trong gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho con. Đó là kiến thức, kinh nghiệm sống của cha mẹ truyền dạy cho con cháu qua hành vi ứng xử trong gia đình.

“Dạy con từ thuở còn thơ”, các bậc cha mẹ cần thường xuyên giáo dục con cháu thái độ, cử chỉ, ăn nói lễ phép, kính trên, nhường dưới, quí trọng thầy cô…


Có người nói với tôi rằng, những lời dạy ấy "xưa" lắm rồi. Không. Không "xưa" đâu!

Có "xưa" không khi ta nói lời "cám ơn", "xin lỗi" bởi đó là phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp của mỗi người.

Nói “cảm ơn” để bày tỏ thái độ biết ơn, cảm kích trước lời nói, hành động hay sự giúp đỡ của một ai đó với mình.

Nói “xin lỗi” khi ta vô ý làm tổn thương ai đó, hay vô tình làm ảnh hưởng đến người khác.

Vì vậy, lời "cảm ơn" "xin lỗi" tưởng như rất đơn giản nhưng nó là quan hệ xã hội, là đạo đức, là phép lịch sự giữa người và người, rất có ý nghĩa trong cuộc sống.

Chỉ với hai từ “xin lỗi”, những mâu thuẫn, giận hờn phút chốc cũng sẽ được hóa giải, khiến mọi người trở nên gần gũi và thân thiện hơn!

Ngày xưa, ông bà ta còn dạy "đi thưa, về trình", chỉ có bốn chữ ngắn gọn thôi, nhưng lại mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Trong lời ăn, tiếng nói hằng ngày với mọi người xung quanh cần phải lễ phép, kính trên nhường dưới, như thế mới là người có giáo dục.


Thật hài lòng, khi con nói: "thưa ba, thưa má con đi học" "thưa ông, thưa bà cháu đi làm việc"; "cháu mời ông, bà ăn cơm"…

Lời nói ấy, cử chỉ ấy, chắc chắn làm hài lòng bất cứ ai, dù khó tính tới đâu, dù người xưa hay người nay!

Cha mẹ cũng cần uốn nắn, phê phán, ngăn chặn thái độ, cử chỉ bất nhã, thiếu lịch sự của con cháu.

Kết hợp giữa giáo dục "xưa" và "nay" để cái tốt, cái đẹp, cái thiện, lòng nhân ái, tính trung thực đâm chồi phát triển./.



Trần Thành Lập

Viết cho con

Cần Thơ, ngày 31 tháng 03 năm 2015

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Tiếng "cảm ơn", lời "xin lỗi”- bài học đầu tiên


Có những "chuyện lớn" mà không quan trọng, nhưng có những "chuyện nhỏ" mà không hề nhỏ và rất quan trọng!

Ông bà ta nói: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Những "chuyện nhỏ" vậy mà còn phải học!

Và đã từ lâu tiếng "cảm ơn", lời "xin lỗi” đã trở thành thói quen ứng xử và là bài học đầu tiên mà tôi học được trong gia đình.

Tôi nhớ, ngay từ lúc còn nhỏ, má tôi là người dạy con rất nghiêm khắc. Mỗi lần nhận một chút quà bánh từ bất kỳ ai, tôi đều phải khoanh tay và nói lời "cảm ơn". Tôi cũng thường hay bị má đánh đòn vì tội ham chơi và tôi phải "xin lỗi" má vì cái tội ấy.

Tiếng "cảm ơn" thốt ra làm người nói và người nghe thân thiện hơn, vui vẻ hơn và lời "xin lỗi" chân tình làm cho người ta lịch sự hơn, cao thượng hơn. Đó là chuẩn mực đạo đức cơ bản trong cuộc sống của mỗi người.

Sáu năm du học, nhiều chuyến công du, ấn tượng và bài học đầu tiên của tôi không phải là bài học về công nghệ hiện đại hay những bài học với những từ ngữ, học thuật cao siêu về "thế giới đại đồng" mà là bài học "Cảm ơn" và "Xin lỗi". Đó là hai từ tôi được nghe nhiều nhất ở trường, ở ký túc xá, trên đường phố, trên tàu điện ngầm, trong siêu thị hay bất cứ nơi đâu.

"Cảm ơn" và "xin lỗi"- bài học về phép lịch sự đầu tiên của mỗi người dường như đang bị nhiều người lãng quên. Tiếng "cảm ơn" lời "xin lỗi" đang thưa dần...

Trong đời sống, dần dần có một bộ phận không nhỏ từ học sinh, sinh viên đến cán bộ, công chức, từ trẻ em đến người lớn đã rất ít quan tâm và rất ít sử dụng đến hai cặp từ "cảm ơn" và "xin lỗi".

Ai đã không biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi" vì những điều nhỏ nhất thì không momg làm được những điều vĩ đại!

Hãy biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi" đúng lúc và khi cần con nhé!

Viết cho con
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016

Hoàn thiện nhân cách từ bài học làm gương


Nhân cách là những nét đặc trưng tiêu biểu của con người. Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người, quan hệ với gia đình và quan hệ xã hội.

Sự hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển của con người qua quá trình giáo dục, tự giáo dục và hoạt động thực tiễn. Trong đó, gương tốt của ông bà, cha mẹ, thầy cô, người lớn ở cơ quan, đơn vị có vai trò hết sức quan trọng.

Từ nhiều năm trở lại đây, phải chăng, vì lo cho cơm áo, gạo tiền hay do nguyên nhân gì mà nền tảng đạo đức, nhân cách rõ ràng đã mờ nhạt đi.

Điều đáng lo ngại là tình trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh, sinh viên không bình thường, từ thái độ học tập, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật của nhà trường, quan hệ thầy trò, chấp hành pháp luật đến những hành vi tiêu cực trong học tập và sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào học đường.

Ngoài xã hội thì đi đâu cũng thấy cảnh làm ăn chộp giật; sản xuất, mua, bán, tiêu thụ hàng giả, hàng cấm, động vật hoang dã, phá rừng hay tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, cuộc sống cứ bon chen, chèn ép lẫn nhau, mạnh được, yếu thua…

Ra nước ngoài, một bộ phận người Việt cũng ít chịu xếp hàng. Vào nhà hàng ăn cứ chen ngang và lấy đồ ăn thừa mứa, lãng phí. Vào thang máy hay lên tàu điện, thậm chí đi vệ sinh cũng chẳng chịu nhường ai.

Các thói quen xả rác, khạc nhổ, hút thuốc, nói lớn tiếng, khoe của, khoái phô trương, hình thức vẫn tồn tại ở nhiều nơi công cộng.

Có rất nhiều nguyên nhân của vấn đề này, bắt nguồn từ sự thiếu gương mẫu của ông bà, cha mẹ trong gia đình, của thầy cô giáo trong trường học.

Còn có một bộ phận không ít cán bộ lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị có lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền, mua chức, bán danh, vô cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, hạch sách, nhũng nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ, làm giàu bất chính, quan liêu, gia trưởng, thiếu dân chủ trong giải quyết sự khác biệt với mình bằng cách hành xử thiếu văn minh của người lớn đang là tấm gương rất xấu cho giới trẻ hiện nay...

Theo Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình, Giám đốc Trung tâm Dư luận xã hội thì: “Sự gương mẫu trong cách ứng xử, lối sống, trong làm việc… của cha mẹ chính là phương pháp giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất tới con cái. Những bậc cha mẹ sống với nhau hòa thuận, chung thủy và có tình nghĩa là tấm gương sáng cho con cái noi theo”.


Cùng với gia đình, trường học cần có nội qui, quy định cụ thể những chuẩn mực giá trị trong các mối quan hệ đối với học sinh sinh viên và giữa thầy cô với các em học sinh mang tính lâu dài để nâng cao nhận thức, hướng học sinh - sinh viên đến việc hình thành nhân cách, sống đẹp, tôn trọng thầy cô, chân tình, thân thiện, ứng xử đẹp với bạn bè.

Đối với cán bộ lãnh đạo phải nghiêm khắc với chính mình, làm gương cho gia đình mình, làm gương cho con cháu mình. Cán bộ càng cao, càng cần phải làm gương, vì sự làm gương của cấp trên sẽ là tấm gương cho cán bộ cấp dưới và cho toàn thể cán bộ, đảng viên làm theo.

Gương mẫu mạnh hơn lời nói. Và chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giản dị, khiêm tốn, gần gũi nhân dân, vì nước, vì dân. Người nói: “Cán bộ là công bộc của dân” nên “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”.

Để từng bước hoàn thiện nhân cách, ngoài giáo dục từ gia đình, trong trường học, hệ thống chính trị phải đảm bảo “pháp luật thượng tôn”. Nếu không, sẽ khó bàn về giáo dục và phát triển nhân cách.


Viết cho con
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 17 tháng 03 năm 2015


Ký ức về một thời lưu học sinh tại Liên bang Xô viết


Năm 1979 tốt nghiệp cấp III bổ túc văn hóa, tôi thi vào Trường Đại Học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Tự tin với kiến thức và hài lòng với bài thi của mình.

Sau một thời gian, bạn bè đều đã nhận giấy báo trúng tuyển. Tôi thì không. Chờ đợi, lo lắng! Rớt sao? Vô lý! Ngày lại qua, tuần lại qua, tôi vẫn tiếp tục chờ. Gần như không còn hy vọng, thì bất ngờ, tôi nhận giấy báo nhập học. Cả gia đình vỡ òa trong hạnh phúc!

Thế là tôi chính thức trở thành sinh viên Trường Đại Học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Lại còn được Ban Giám hiệu Trường chỉ định làm lớp trưởng.

Một năm học rất vất vã cũng qua đi. Với kết quả tốt khá toàn diện, tôi được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp chọn đưa đi du học ở Liên Xô. Đây là niềm tự hào, vinh dự của gia đình và quê hương tôi.

Trước khi đi du học, chúng tôi phải học tiếng Nga một năm ở Trường Đại học ngoại ngữ 97 Võ Văn Tần, thành phố Hồ Chí Minh. Trong số du học sinh có nhiều người như tôi là sinh viên xuất sắc năm thứ nhất từ các trường đại học.

Vượt qua biết bao khó khăn, vất vã, tinh thần học tập của chúng tôi ngày đó rất sôi nỗi, khẩn trương, cuối cùng chúng tôi cũng đạt được trình độ tiếng Nga để đi du học.

Những năm đó đi du học khó lắm. Lý lịch bản thân và gia đình tôi rất tốt. Chỉ có điều tôi mang họ Trần, nên cơ quan chức năng phải xác minh nhiều nơi để làm hồ sơ cấp hộ chiếu. Do đó, đến đầu tháng 10 tôi mới được bay sang thủ đô Moscow (trể hơn bạn bè gần một tháng).

Thế là cuộc đời bắt đầu chuyển sang một bước ngoặt mới. Tạm biệt quê hương, tạm biệt người thân, phải nén lòng nhớ má, nhớ ba, nhớ người thân, nhớ bạn bè để lo cho sự học.

Chiếc máy bay IL 86 của Hãng hàng không quốc gia Aeroflot Xô Viết chở chúng tôi đáp xuống sân bay quốc tế She-re-men-che-vơ Moscow vào sáng mùa thu khi những cánh rừng bạch dương đã ngã sang màu vàng tuyệt đẹp.

Đúng là mùa thu vàng! Thiên nhiên đã ban tặng cho Moscow mùa thu vàng tuyệt diệu khiến những ai đã đi qua nơi đây phải lay động, thổn thức tâm hồn.

Đại diện Ban quản lý lưu học sinh đón chúng tôi từ sân bay về ký túc xá Đại học Tổng hợp quốc gia Lomonosov Moscow. Chúng tôi, những lưu học sinh lại phải trải qua một năm đào tạo về ngôn ngữ, gọi là năm học dự bị ở Moscow.

Trong năm học này các lưu học sinh được học theo một chương trình đào tạo đặc biệt để có thể nắm bắt được ngôn ngữ đứng thứ ba về độ khó so với các ngôn ngữ khác.

Thời gian đầu tiếp xúc với người Nga và được học chung với các bạn sinh viên đến từ nhiều nước trên thế giới, tôi mới hiểu được sự hạn chế về mặt ngoại ngữ của mình.

Nhờ cần cù, chịu khó nên khả năng độc tài liệu, viết bài thu hoạch thì tạm được, nhưng kỹ năng nghe và phát biểu bằng tiếng Nga thì quả là một vấn đề lớn đối với tôi, do không có năng khiếu học ngoại ngữ và bởi đặc trưng ngôn ngữ đơn âm của tiếng Việt.

Tôi thật sự cảm thấy thất vọng và bi quan, nhưng nhờ được thầy cô giáo giúp đỡ hết sức nhiệt tình và vô tư không chỉ trong truyền thụ kiến thức mà cả trong cuộc sống hàng ngày, từ việc ăn ở, đi lại, học hành nên chúng tôi đã nhanh chóng vượt qua, lấy lại được sự tự tin và niềm đam mê trong học tập.


Từ một sinh viên chưa biết tiếng Nga, sau một năm học tập, tôi đã có thể nghe, nói được kha khá và sau học kỳ đầu của năm thứ nhất đã có thể phần nào theo được chương trình học đại học cùng với sinh viên các nước.

Học tiếng Nga, sống cùng các bạn Nga, tôi càng hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa các dân tộc thuộc Liên bang Xô Viết.

Từ những ngày đầu tiên tôi đã bắt gặp những ánh mắt, nụ cười thánh thiện, nhân hậu của người dân Xô Viết; được sống êm đềm, vui vẻ trong tình thương yêu của thầy cô.

Moscow đẹp lắm! ngăn nắp, sạch sẽ và hiện đại! Tôi đã có dịp đến thăm những công trình kiến trúc nỗi tiếng thế giới như: Quảng Trường Đỏ, Điện Kremli, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov, tháp truyền hình Octankino, khu triển lãm kinh tế quốc dân, đồi Lê Nin, tàu điện ngầm, những tòa nhà chọc trời, những công viên rộng lớn rợp bóng cây xanh. Con sông Moscow quanh co uốn lượn giữa lòng thủ đô như làm tăng thêm vẽ đẹp thơ mộng của Moscow.

Sau một năm học dự bị, lưu học sinh chúng tôi bắt đầu vào học năm thứ nhất cùng với sinh viên các nước tại Trường Đại học Tổng Hợp Leningrat. Đây thật sự là một trong những giai đoạn khó khăn nhất cần phải vượt qua.

Thành phố Leningrat rất rộng và từng là thủ đô của nước Nga, có nhiều di tích lịch sử đẹp nổi tiếng thế giới như Cung điện Mùa đông, Cung điện Mùa hè, Bảo tàng Puskin, Chiến hạm Rạng Đông, mà tôi cũng đã có dịp đến thăm đôi lần!

Lưu học sinh Việt Nam thời đó không chỉ được học tiếng Nga, khoa học xã hội, khoa học cơ bản, khoa học quản lý, khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến mà còn hiểu sâu sắc về nền văn hóa, lịch sử về đất nước và con người Nga với biết bao chiến công oai hùng trong lịch sử.

Tôi thích tham gia các buổi seminar, vì mọi người góp ý rất nhiều, đặt câu hỏi, nhận xét, tranh luận. Nhất là các buổi seminar có liên quan đến Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin; hay các chủ đề có liên quan đến kinh tế kế hoạch (còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung hoặc nền kinh tế chỉ huy) hay là kinh tế phi kế hoạch. Từ cơ sở khoa học và thực tiễn, cả thầy và trò tranh luận sôi nổi, quyết liệt.

Lưu học sinh Việt Nam thời đó được các trường đại học Liên Xô cho hưởng chế độ học bổng 90 rúp/tháng, đáp ứng nhu cầu cuộc sống và toàn tâm cho việc học tập.

Nhưng vào các dip hè hoặc nghỉ đông, tôi tranh thủ đi làm thêm, có khi làm cả ca hai, ca ba với thời tiết có lúc –35 độ C, để vừa thực hành hoàn hảo những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa có thêm thu nhập để phụ giúp gia đình.

Học hành và thi cử cũng lắm bận, nhiều phen, cố gắng vượt qua được những lần thi thố khó khăn, vất vã bằng tiếng người, ở xứ người, và rồi cũng cập bến bờ của sự thành công trong học tập!


Sáu năm là lưu học sinh Việt Nam được sống và học tập ở Liên Xô. Tôi đã rất tự hào về một Liên bang Xô Viết thịnh vượng, là thành trì của hòa bình thế giới…

Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội… đã để lại làm nền tảng vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ của nước Nga hiện nay và cả mai sau.

Tôi luôn cảm nhận rằng đất nước Liên Xô rất vĩ đại, đất nước Nga ngày nay cũng vậy. Trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, nước Nga vẫn đứng vững và phát triển.

Tôi rất khâm phục tinh thần yêu nước của nhân dân Nga, ý chí và lòng tự tôn dân tộc, kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách.

Bà mẹ Nga cũng giống như mẹ Việt Nam, hiền lành, đôn hậu, nhân ái, sẵn sàng sẻ chia mẩu bánh cuối cùng của mình cho bạn bè trong lúc khó khăn.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn đau đáu về nước Nga, về Bà mẹ Nga - Đó là vì ở trên đất Liên Xô khi ấy tôi đã được sống, được học, được bao bọc trong tấm lòng nhân hậu của người Nga, được nhận tình cảm nồng ấm từ bạn bè, và trong sự dạy dỗ của thầy cô.

Chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn thầy cô giáo, cảm ơn đất nước Nga, Bà mẹ Nga!




Trần Thành Lập

Viết nhân 30 năm, ngày tốt nghiệp Đại học. Tạm biệt Trường Đại học Tổng Hợp Leningrat.

Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2016

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Làm người phải có lòng tự trọng!


Lòng tự trọng là nhân cách, là giá trị, là danh dự, là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người, giúp chúng ta sống và hoạt động theo chuẩn mực đạo đức và hành xử đúng mực.


Người có lòng tự trọng luôn có sự hiểu biết về các chuẩn mực xã hội, ý thức thượng tôn, tự giác và gương mẫu chấp hành pháp luật; luôn giữ gìn, bảo vệ phẩm giá, nhân cách của mình dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Người có lòng tự trọng biết xấu hổ khi lỡ làm điều sai trái và có ý thức sửa chữa đến cùng.

Người có lòng tự trọng nhờ có được sự giáo dục đúng đắn, chu đáo, tốt đẹp từ ngay trong gia đình, nhà trường và xã hội.

Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng, đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp, lòng tự trọng, nhân phẩm, tự ti không còn nữa; bằng cấp, chức tước, của cải, vật chất, miếng ăn giờ nó cao hơn nhân phẩm con người.

Lòng tự trọng gần như bị xem thường, thì con người cũng không còn biết xấu hổ là gì.

Người có lòng tự trọng cũng không bao giờ theo lối sống thực dụng, dối trá, ích kỷ, chạy theo đồng tiền, mua chức, bán danh hoặc luồn cúi, xu nịnh trước uy quyền để cầu cạnh lợi danh.

Tuy nhiên, từ thực trạng xã hội, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 nhận định: "Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”.

Trong diển văn khai mạc của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI có nêu: “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục.”

Trong bài tham luận trước Đại hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương Vũ Quốc Hùng nêu: "Trong báo cáo xây dựng Đảng tại đại hội lần này, trung ương cũng nhận định, nơi này nơi khác vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”.

Trong xã hội còn có tình trạng “chạy tuổi” để được đề bạt, được vào cấp ủy, kéo dài thời gian công tác để hưởng bổng lộc”;

Lòng tự trọng là sự song hành giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm, thay vì hô hào, lý luận chung chung, mỗi người hãy tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái đẹp, cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống; thượng tôn, tự giác và gương mẫu chấp hành pháp luật. Đó mới là bản chất đích thực của lòng tự trọng.

Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 28 tháng 04 năm 2016

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016

Trở về nơi nuôi tôi khôn lớn


Chiến tranh kết thúc. Tiếp quản trụ sở làm việc, ổn định tổ chức, phân công lại nhiệm vụ cho cán bộ, phóng viên trong cơ quan, tôi và các anh chị đồng nghiệp được phân công trở về vùng căn cứ kháng chiến để thu thập thông tin về sự thay da, đổi thịt của những ngày, tháng đầu sau giải phóng. Đối với tôi, đây cũng là dịp để trở về quê hương, thăm viếng bà con, cô bác, những người đã một thời nuôi, dạy tôi khôn lớn.


Từ Cần Thơ theo liên tỉnh lộ 42 qua Long Mỹ đến Ngã Năm về Hồng Dân; dù đường đi lại còn khó khăn, nhưng một số tuyến đường được nâng cấp đem lại sự hồi sinh cho nhiều vùng xâu, vùng xa của tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu sau bao năm tháng chiến tranh tàn phá.

Theo tập quán, người dân nơi đây luôn bám lấy vệ đường để cất nhà. Mặt tiền dọc theo tuyến đường đi từ Cần Thơ qua huyện Long Mỹ đến thị trấn Ngã Năm nhiều căn nhà bán kiên cố, những tiệm tạp hóa, cơ sở sửa chữa máy đuôi tôm, nhà máy xây lúa đã được dựng lên trên những hố bom năm nào.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, phong trào san lấp hố bom, xây dựng các công trình thủy lợi, khai hoang, mở đất, khôi phục sản xuất, phát triển an sinh xã hội. Màu xanh của cây trái, màu vàng của lúa chín đang xóa dần sự hoang tàn bởi đạn bom và thuốc khai hoang.

Không bao lâu sau chiến tranh, người dân nơi đây đã tự cung cấp đủ lương thực, thực phẩm. Tinh thần lao động của người nông dân Nam Bộ làm năng suất trong sản xuất nông nghiệp vượt xa so với trước chiến tranh.

Phong trào nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào qui trình trồng lúa, cải tạo vườn tạp, trồng cây ăn trái, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh ở nhiều vùng nông thôn. Thanh niên nông thôn đi đầu trong việc tìm tòi sáng tạo các phương pháp sản xuất trồng trọt và chăn nuôi.

Ở mỗi cánh đồng chúng tôi đi qua, chính là chứng tích lịch sử của chiến tranh, bởi mỗi tấc đất, mỗi gốc cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi bông lúa hay mỗi nhành hoa nơi đây đều thấm máu, xương của chiến sỹ và người dân vô tội.

Chúng tôi trở lại ấp Ninh Định, xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng, nơi mà vào sáng sớm ngày 16/1/1973, nhiều máy bay B52 ném hàng loạt bom tấn, sát hại nhiều người dân vô tội. Trong đó có 8 nghệ sĩ, nhạc công của Đoàn cải lương Chuông Vàng, 2 giáo viên ở Tiểu ban giáo dục và rất nhiều người thương vong.

Về đây, chúng tôi còn tỏ lòng tri ân với chiến sĩ, bạn bè, đồng đội, người dân vô tội đã ngã xuống vì chiến tranh. Đứng trước anh linh những người đã khuất, chúng tôi thành kính thắp nén nhang, tưởng nhớ công ơn những người đã hy sinh vì hòa bình, tự do cho mảnh đất này.

Tại những nơi từng diễn ra những trận đánh ác liệt, những ngôi trường mới khang trang vừa được dựng lên. Trẻ em vùng quê đã được cấp sách đến trường. Dù còn có những ngôi trường tre lá tạm bợ nhưng trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường. Nhờ tinh thần học tập mà người dân nơi đây đã xây dựng lại quê hương từ trong đổ nát bởi đạn bom.

Chiến tranh đi qua, chúng tôi đã để lại phía sau lưng mình những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh với biết bao kỷ niệm vui buồn của một thời đạn bom.

Trở về đây, chúng tôi không chỉ tìm lại những kỷ niệm xưa, mà còn chân thành cảm ơn những nghĩa cử cao đẹp của người dân nơi đây, bà con một thời giúp đỡ, yêu thương, dạy dỗ chúng tôi như con cháu của chính mình. Bà con là chỗ dựa tinh thần, là mái ấm tình thương cho chúng tôi trong những tháng năm xa nhà!


Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 29 tháng 01 năm 2015

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

Nhiệm vụ đầu tiên của tôi-ghi tin đọc chậm

Nhiệm vụ đầu tiên của tôi-ghi tin đọc chậm

Kết thúc khóa học, trở về cơ quan, tôi được các chú lãnh đạo Tiểu ban Thông tấn-Báo chí quyết định phân công nhiệm vụ: ghi tin đọc chậm. Được trang bị tập, bút và một chiếc radio hiệu National.


Tôi vui lắm vì đây được xem là nhiệm vụ cách mạng- nhiệm vụ đầu tiên được các chú tin tưởng giao cho mình.

Nhưng cũng rất lo vì trình độ chữ nghĩa, văn chương còn kém lắm và cũng chưa có kinh nghiệm ghi chép, nhất là ghi tin đọc chậm, nên tôi phải hết sức cố gắng, khiêm tốn học hỏi, nghiêm túc và tận tụy trong công việc.

Để kịp thời cung cấp thông tin, mỗi ngày Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đều có buổi phát thanh đọc chậm để các địa phương, đơn vị ghi chép phục vụ cho công tác tuyên truyền.

Năm 1972 chiến tranh rất ác liệt, diễn ra trên diện rộng cả Nam và Bắc Việt Nam, có sự tham gia của quân đội Mỹ với hải, lục, không quân.

Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục phát đi các bản tin thời sự nóng hổi từ chiến trường Đông Nam Bộ, Bắc Tây Nguyên, Trị Thiên-Huế; Đồng bằng Nam Bộ, Trung Trung Bộ; các trận đánh trên không ỏ Hà Nội, Hải phòng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh và các vùng lân cận.

Mỗi ngày tôi phải hết sức cố gắng, tập trung ghi chép đầy đủ, chính xác thông tin, trình duyệt kịp thời là đã hoàn thành nhiệm vụ được phân công

Đầu tháng 5 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin: "thị xã Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng". Chép xong bản tin, tôi trình ngay cho đồng chí Tổng biên tập duyệt qua để kịp phát hành.

Sau này, tôi nghe kể lại, trong 81 ngày đêm, nhiều chiến sĩ đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông Thạch Hản, dưới lòng đất Thành cổ Quảng Trị đầy máu và xương. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.

Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương của người Việt đã đổ trên mảnh đất này. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.

Ngày 17 tháng 12 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin không quân Mỹ lại đánh bom miền Bắc Việt Nam. Người Mỹ gọi đây là chiến dịch Linebacker II nhằm "đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá" Họ huy động 197 trên tổng số 400 chiếc B-52, gần một phần hai số máy bay chiến thuật và một phần tư số tàu sân bay.

Nhưng sau 12 ngày đêm, 34 máy bay B-52 đã bị bắn rơi. Nhiều phi cơ chiến lược khác của Mỹ cũng chịu chung số phận.

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc và họp lại Hội nghị Paris về Việt Nam.

Chiến tranh vẫn ác liệt, lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.

Không khuất phục được ý chí cách mạng của dân tộc Việt Nam, ngày 27.1.1973, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sau khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi toàn văn Hiệp định Paris thì từ thành thị đến nông thôn cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Ai cũng tin rằng, chiến tranh đã kết thúc, hòa bình được lập lại ở Việt Nam.

Nhưng Hiệp định vừa ký chưa ráo mực, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành “Kế hoạch tràn ngập lãnh thổ”, phá hoại Hiệp định, chiếm đất, giành dân, xoá vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng và cơ sở cách mạng.

Trên địa bàn Tây Nam Bộ, giao tranh rất ác liệt với hàng trăm tiểu đoàn của nhiều sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn chủ lực, với các loại máy bay chiến đấu hiện đại và các loại bom pháo rải thảm dày đặc, khốc liệt.

Trong bối cảnh cực kỳ ác liệt và phức tạp đó, quân và dân khu 9 liên tục phản công, đánh trả quyết liệt để giữ đất, bảo vệ dân, giành quyền làm chủ, giành thắng lợi.

Năm 1974, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục đưa tin chiến sự và chiến thắng của quân và dân miền Nam. Chiến thắng Đức Phong, Bù Đăng, Bù Đốp, giải phóng Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Phước Long;

Đầu năm 1975, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung Bộ; tiếp đến là Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi cũng được giải phóng.

Quen dần với công việc và từ những tin chiến thắng ngoài mặt trận giúp tôi tự tin hơn, ghi chép đầy đủ tin tức chiến sự, bình luận, xã luận, kịp thời trình duyệt để in ấn, phát hành, làm tài liệu tuyên truyền cho cán bộ ở các đơn vị và địa phương.

Và đầu năm 1975, tôi được phân công đi cùng với lực lượng vũ trang để thu thập thông tin từ chiến trường.

Đầu tháng tư năm 1975 Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đồng loạt đưa tin "chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu". Tin tức thời sự liên tục phát đi "Dinh Độc Lập" bị đánh bom; giải phóng Xuân Lộc, Phan Rang...

Mỹ tuyên bố "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ", Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống của Chính phủ Việt Nam cộng hòa.

11 giờ 30 phút, tôi nhận được tin từ Đài Phát thanh Giải phóng "Sài gòn được giải phóng" lá cờ cách mạng tung bay trên nóc "Dinh Độc Lập". Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.


Trên đà chiến thắng, các tỉnh Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy, các đảo và cả miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.

Vậy là chiến tranh đã kết thúc! Một cảm xúc nghẹn ngào, một niềm vui khó tả. Không có ngôn ngữ nào diễn đạt được tâm trạng vui mừng của những người đã trải qua khói lửa của đạn bom.

Hoà bình rồi! Chiến tranh kết thúc rồi! Chúng tôi ôm nhau khóc, cười như trẻ thơ, bàng hoàng, ngất ngây.

Mình được sống rồi! Má ơi! Mình được sống rồi!

Tôi trưỏng thành từ cái "nghề" ghi tin đọc chậm.

40 năm chiến tranh đã khép lại. Những đổi thay đang xóa dần sự đổ nát của một thời đạn bom. Nhưng hậu quả của chiến tranh nó cứ ám ảnh, làm day dứt lòng người, vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người!

Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 26 tháng 12 năm 2014

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

Nhớ về mái trường xưa


Dù thời gian cứ trôi, dù cuộc sống đã trải qua bao thăng trầm, nhưng nhiều kỷ niệm đẹp về những tháng năm học tập và rèn luyện dưới mái trường thân yêu mang tên người thiếu niên anh hùng Lê Văn Tám vẫn mãi mãi còn đọng lại trong tôi...

Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng. Được mấy chú cho đi học văn hóa ỏ trường Lê Văn Tám thuộc Tiểu ban Giáo dục, Ban Tuyên huấn Tỉnh Sóc Trăng.

Khi học viên đã tập trung đầy đủ, các chú ở Tiểu ban Giáo dục triển khai chủ trương, nhiệm vụ của lớp, địa điểm cất trường và kế hoạch học tập...

Đây là lớp học đặc biệt, chỉ đào tạo văn hóa cho học viên sau này về công tác ở Ban Tuyên huấn Tỉnh Sóc Trăng.


Lớp có 20 học viên, 4 nữ, 16 nam, tuổi từ 13 đến 16, cái tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới", chủ yếu là con em cán bộ, bộ đội và gia đình cách mạng.

Lớp được chia thành 3 tổ, tôi được giao nhiệm vụ làm lớp trưởng. Thầy Quốc Việt vừa là giáo viên giảng dạy vừa phụ trách chung, cô Lài phụ trách y tế của lớp.

Sau khi nhận nhiệm vụ, thầy Quốc Việt cùng một vài anh em trong chúng tôi bơi xuồng tìm địa điểm, cây, lá để chuẩn bị cất trường.

Chúng tôi quyết định chọn vàm Cái Chanh, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân làm địa điểm cất trường.

Đây là khu rừng vùng sâu, chủ yếu là rừng tràm và lá dừa nước, không còn người ở vì sự ác liệt của đạn bom.

Chúng tôi chia nhau thành nhiều nhóm. Nhóm mấy anh nam, sức khỏe tốt thì lội vào rừng đốn tràm về làm cột, kèo, đòn tay, rui, mè; nhóm thì vào rừng đốn lá dừa nước về chầm lại để lợp nhà; nhóm khác thì phát hoang lau sậy, đào đấp nền trường, nhà ăn, nhà ở, hầm tránh bom. Chiến tranh mà! Còn cô Lài cùng các bạn nữ thì lo hậu cần, cơm nước.

Vất vả lắm vì công việc quá với sức của lứa tuổi chúng tôi. Nhưng rất vui vì mỗi người một việc, ai cũng cố gắng hết mình, đoàn kết, thương yêu, giúp nhau trong lao động.

Sau hơn một tuần khẩn trương, vất vả của thầy trò chúng tôi thì phòng học, nhà ăn, nhà ở cho học viên nam, nữ được dựng lợp hoàn chỉnh, khang trang, sạch đẹp. Hầm tránh bom cũng đào đắp xong, được ngụy trang rất cẩn thận, an toàn. Những con đường từ nhà ở, nhà ăn đến phòng học được nối với nhau bằng những cây cầu tràm.


Tôi vẫn luôn nghĩ, đây là ngôi trường đẹp đối với chúng tôi; ngôi trường với mái lá đơn sơ do thầy trò cùng xây cất, ngôi trường giản dị mà ẩn chứa biết bao điều tốt đẹp thân thương; nó gắn liền với tuổi mới xa gia đình, hòa vào cuộc sống lao động tập thể, chan chứa niềm tin và hy vọng.

Chiến tranh vẫn ác liệt, bom cày, đạn xới, vượt qua mọi hiểm nguy, gian khó, ngày ngày, chúng tôi lên lớp tiếp thu nhiều kiến thức quý báu từ người thầy kính yêu.

Thầy truyền thụ cho chúng tôi nhiều kiến thức vô cùng quý báu. Chúng tôi như nuốt lấy từng lời, từng chữ, từng câu. Đêm đêm, khi không nghe tiếng máy bay do thám, chúng tôi chia tổ học thêm bên những ngọn đèn dầu.

Không chỉ học văn hóa, chúng tôi còn phải học cách sử dụng súng trường, tuần tra cách gác, phòng gian bảo mật...Chiến tranh mà!

Có những giai đoạn chiến tranh ác liệt, thiếu gạo, thầy trò chúng tôi ăn uống kham khổ suốt nhiều tháng liền. Thức ăn chủ yếu là khô cá mặn, khoai rạng hoặc rau dệu nấu với nước lã cho bột ngọt vào làm canh...

Vất vả là thế, nhưng thầy trò chúng tôi vẫn sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tự tin, cố gắng trong học tập và rèn luyện.


Sau đó, trường chúng tôi được quyết định chuyển sang xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân.

Ở đây, chúng tôi mượn nhà bà con làm phòng học, sống chung với gia đình bà con - cùng ăn, cùng ở, cùng làm.

Thật đáng quý trước những nghĩa cử cao đẹp của người dân nơi đây, bà con sẵn sàng giúp đỡ, yêu thương, dạy dỗ chúng tôi như con cháu của chính mình. Bà con là chỗ dựa tinh thần, là mái ấm tình thương cho chúng tôi trong những tháng năm xa nhà!

Một năm học tập và rèn luyện, chúng tôi không chỉ đã biết đọc, biết viết, biết làm toán mà còn được rèn luyện tính tổ chức kỷ luật, lao động, biết sống hòa đồng trong một tập thể, biết đoàn kết, thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống, lao động và học tập; biết "yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ " và học được bài học làm người...


Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm chấm dứt chiến tranh

Cần Thơ, ngày 22 tháng 12 năm 2014

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

Ác mộng về chiến tranh



Chiến tranh đã khép lại gần 40 năm, nhân dân Việt Nam phải vượt qua bao khó khăn để xây dựng lại quê hương. Những đổi thay đang xoá dần sự đổ nát của một thời đạn bom, hàn gắn lại vết thương chiến tranh.

Nhưng có những vết thương mà gần nữa đời người rồi vẫn chưa hàn gắn được. Nỗi ám ảnh bởi những gì trải qua trong chiến tranh luôn gây cho tôi những cơn ác mộng khủng khiếp.


Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ rung trời của bom tấn, tiếng rền vang, xé gió của pháo bầy. Đồng đội, bạn bè, người dân vô tội đã ngã xuống vì đạn bom. Mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, tang thương chất chồng!

Chiến tranh là điều khủng khiếp và tàn nhẫn. Nó đã cướp đi thời niên thiếu của chúng tôi.

Mới 6 tuổi đầu, tôi đã chứng kiến một cuộc thảm sát kinh hoàng! Ngày 17 tháng 05 năm 1962, 24 người ở quê tôi, ấp Định Hòa, xã Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên đã bị lính biệt kích giết chết. Trong đó có 4 em nhỏ ở đoàn ca múa Ánh Hồng.

Họ bị giết bằng hành động rất dã man như: mổ mật, moi gan, cắt đầu, kéo xác thả trôi sông. Tiếng khóc tìm chồng, gọi cha nghe thảm thiết, xót thương!

Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng.

Chiến tranh vẫn ác liệt, trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.

Tôi vẫn còn kinh hoàng, vào sáng sớm ngày 16/1/1973, nhiều máy bay B52 ném hàng loạt bom tấn xuống ấp Ninh Định, xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng sát hại nhiều người dân vô tội. Trong đó có 8 nghệ sĩ, nhạc công của Đoàn cải lương Chuông Vàng, 2 giáo viên ở Tiểu ban giáo dục và rất nhiều người thương vong.


Tôi đã đọc nhiều tài liệu viết về "Cuộc chiến Việt Nam”. Tất cả đều cho rằng đây là cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu và đầy nước mắt. Gần tám triệu người Việt Nam bị chết và bị thương tật. Hơn 4,8 triệu người bị di chứng chất độc da cam - đi-ô-xin trong đó hơn một triệu người đã chết và hơn 150.000 trẻ em thế hệ thứ hai, thứ ba bị di chứng chất độc đang từng ngày đau đớn. 58 nghìn binh lính Mỹ bị thiệt mạng, 300 nghìn người Mỹ bị tàn phế. Hàng chục nghìn người Mỹ và quân lính các nước chư hầu chịu hậu quả chất độc hóa học và di chứng chiến tranh tại Việt Nam...

Sống sót sau chiến tranh với những ký ức mà tôi không thể nào quên được. Bom, đạn đã làm tôi hết cả tuổi xuân.

Vết thương trên da thịt có thể được chữa lành, nhưng vết thương lòng của nhiều thế hệ vẫn còn rỉ máu. Lòng người vẫn chia cắt, hận thù vẫn còn là một hố sâu ngăn cách chưa thể hàn gắn. Hậu quả của chiến tranh nó cứ ám ảnh, day dứt lòng người.

Hãy tiếp tục tự chữa lành những vết thương lòng và hãy tha thứ, quên đi những bi kịch đau buồn của cuộc chiến tranh. Vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người!

Người ta sinh ra để mưu cầu hạnh phúc, chứ không phải đánh nhau và làm một cuộc chiến nhiều máu để giành quyền lực!

Các dân tộc cần được sống để thương yêu, hợp tác, giúp nhau cùng phát triển trong hòa bình!



Trần Thành Lập


Cần Thơ, ngày 26 tháng 04 năm 2015

Viết nhân 40 năm, ngày giải phóng miền Nam

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

Trở về với ký ức tuổi thơ

Trở về với ký ức tuổi thơ

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc vùng đồng bằng sông nước Sóc Trăng. Lúc tôi còn nhỏ xíu xiu, thì ba tôi đã đi làm cách mạng, má tôi quanh năm chân lấm, tay bùn, thức khuya, dậy sớm, vất vả với ruộng đồng mà nuôi dạy 8 chị em tôi ăn học nên người!


Tuổi thơ tôi gắn liền với sông nước nặng tình phù sa, với những cánh đồng trải dài vô tận, thẳng cánh cánh cò bay.

Tôi luôn nhớ những luống cày, nhớ màu xanh non của mạ, nhớ cánh đồng vàng của mùa lúa chín, nhớ cả mùi rơm thơm khi đốt đồng, nhớ cả tiếng chim chiều, nhớ tiếng ếch nhái râm rang như khúc nhạc buồn trong đêm...

Cánh đồng là nơi mưu sinh, là sân chơi với nhiều kỷ niệm ngọt ngào và trong sáng, là nơi có những niềm vui, nỗi buồn của tuổi thơ tôi...

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! "Ba", "Má" hai tiếng quá gần gũi, quá thân thương ngay từ những tiếng nói bập bẹ đầu đời. Là cả biển trời yêu thương, là sự hy sinh bất tận, là niềm vui, là hạnh phúc của đời tôi...

Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống, biết thương người với cái nghĩa, cái tình, biết kính trên, nhường dưới; giáo dục chúng tôi có thói quen “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, biết lễ giáo quanh mâm cơm…; biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống đời thường!

Ba tôi là người sống có tình cảm, có trách nhiệm với các con! Dù ở xa, dù bận nhiều việc nước, chiến tranh hay hòa bình, lúc nào cũng quan tâm đến các con. Tết, ba tôi không về, viết thư cho má và các con:

"Riêng Hồng, Tỷ, Lập, Nghiệp, Sở, Bằng và Tổng, Thúy,
Ba mừng các con một tuổi lớn nhanh hơn!"

Tuổi thơ tôi còn có biết bao kỷ niệm bên chiếc võng đu đưa, kẽo kẹt, nhịp nhàng lẫn trong tiếng ru ngân nga giữa trời đêm tĩnh mịch ở thôn quê nghe mênh mông rì rào tình cảm biết chừng nào...


"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi, khó đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua."

Những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con...

Má còn là tấm gương về sự công bằng. Vì đông con, nên mỗi lần má mua đồ ăn thì phải chia đều: mía mỗi người hai cây, khoai mỗi người hai củ, bánh in mỗi người hai cái...Gần đến Tết, má mua cho chị em tôi mỗi người một đôi dép, hai bộ quần áo mới để mặc đi thăm viếng ông, bà và để mặc cả năm.

Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Ngày ngày bắt ốc, hái rau. Có lần tham ăn rau đắng đồng tươi non xào với tép. Ăn nhiều đến bội thực! Đến mùa nước nổi, thì bắt nhái, cấm câu, lỗ mũi đầy lọ bởi ngọn đèn dầu!

Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!

Thu hoạch lúa gặp lúc trời mưa thì rất vất vả. Lúa ướt vớt lên chưa kịp phơi đã có mộng là chuyện thường. Có lần, Chế và Hia tôi, đảy xuồng đi chở lúa về. Bó lúa còn dài hơn cả người, chở đầy, chìm xuồng, lúa ướt, kéo lên phơi cả tuần chưa khô...

Chiến tranh, gia đình ly tán. Khói lửa đạn bom đã cướp đi tuổi thơ tôi!

Tuổi thơ tôi là thế đấy! Thèm lắm được một lần quay trở lại với tuổi thơ để được nũng nịu trong tình thương của má, để được sự che chở của ba, để chị em cùng quay quần bên nồi bánh Tết!

Nhớ lắm tuổi thơ ơi!



Trần Thành Lập


Cần Thơ, ngày 09 tháng 12 năm 2014


Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Quan hệ láng giềng và lợi ít Quốc gia



Khi tôi viết bài “Hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần” đăng trên mạng xã hội, có không ít ý kiến trái chiều. Nhiều người cho rằng, quan hệ tốt với hàng xóm, láng giềng là một lối sống tốt đẹp của người Việt Nam vì xưa nay, ông bà ta đã quen với lối sống phụ thuộc nhiều vào hàng xóm, láng giềng, cộng đồng dân cư.

Không ít người thì cho rằng, ngày nay để giữ được mối quan hệ “bình thường” với hàng xóm, láng giềng không phải điều đơn giản. Mình muốn tốt nhưng người ta không muốn, đôi khi chỉ vì một chút quyền lợi bé tí mà sinh ra cãi cọ, bất hòa, tranh chấp, kiện tụng…

Gần đây, trong quan hệ ngoại giao, người ta thường dùng từ “láng giềng” để nói lên mối quan hệ hữu nghị, gần gũi, gắn kết giữa các nước. Đặc biệt, Trung Quốc đã khái quát thành phương châm “4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng đặc biệt, núi liền núi, sông liền sông. Nhân dân hai nước có mối quan hệ láng giềng truyền thống lâu đời. Có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội…

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu về "tầm nhìn châu Á" đã nhắc lại câu tục ngữ "bán anh em xa, mua láng giềng gần".

Nhưng muốn xây dựng quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác tốt, điều quyết định không phải là lời nói, là khẩu hiệu mà cần phải hành động trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cần có độ tin cậy nhất định.


Sáng ngày 6 tháng 11 năm 2015, phát biểu trước Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói: "Người thân thì mong người thân tốt, láng giềng thì mong láng giềng tốt. Đã là láng giềng khó tránh xảy ra va chạm, nhưng hai bên cần xuất phát từ đại cục hai nước".

Đặc trưng của quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ trong lịch sử bang giao hai nước.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Việt Nam nói ở Paris, “Trong lần tụi tôi dự hội thảo về biển Đông nhưng đã nói rằng Việt Nam và Trung Quốc giờ muốn đổi lại hàng xóm thì đâu có được. Mình không thể thay đổi thực trạng là Việt Nam có một hàng xóm như là Trung Quốc. " Dĩ nhiên, với lịch sử của hàng nghàn năm nay, người Việt Nam biết Trung Quốc như thế nào rồi.”

Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời Cổ đại cho đến nay, từ các triều đại phong kiến phương Bắc cho đến nay không triều đại nào lại không đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Họ đã bằng mọi cách, dốc toàn lực để chống phá, thậm chí còn lôi kéo, kích động các nước láng giềng phối hợp với họ để chống phá Việt Nam.


Đặc biệt, gần đây cộng đồng quốc tế đang bày tỏ quan ngại về những diễn biến ở Biển Đông.

Tiếp xúc cử tri ngày 01 tháng 7 năm 2014, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Biển Đông là vấn đề lớn, quan trọng, hệ trọng, nhạy cảm, được toàn dân và nhiều nước trên thế giới quan tâm, cũng là vấn đề liên quan đến sự ổn định, phát triển của đất nước sắp tới, cũng như việc giải quyết quan hệ với TQ, “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu”.

Tổng bí thư chia sẻ: “Trong lịch sử đã nhiều lần, ta luôn phải tìm cách chung sống hòa bình, thân thiện, hợp tác, phát triển, đồng thời giữ được độc lập, chủ quyền”, Tổng bí thư nhấn mạnh đây là việc khó.

Thật vậy, xuất phát từ truyền thống đoàn kết, hoà hiếu của dân tộc Việt Nam, như: "Dĩ hòa vi quý" "Hoà cả làng", "Một điều nhịn, chín điều lành", "Chín bỏ làm mười"… hay thói quen của cộng đồng trong việc giải quyết tranh chấp là không muốn đưa các tranh chấp ra trước các cơ quan tài phán để phán xử như: "Vô phúc đáo tụng đình", vì không muốn "Chuyện bé xé ra to", "Vạch áo cho người xem lưng" mà chủ yếu là "đóng cửa bảo nhau".

Nhưng Tổng bí thư cũng chỉ ra: “Ta đấu tranh toàn diện, kết hợp nhiều biện pháp, trên tinh thần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, kiềm chế, không để xảy ra xung đột, chiến tranh, đồng thời giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội...”

“Đây là việc khó khăn, ta phải kiên quyết, kiên trì, bằng nhiều biện pháp, sai một ly đi một dặm, mặt nào không tốt đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển đất nước”, Tổng bí thư tiếp tục nhấn mạnh đấu tranh bằng mọi biện pháp hòa bình, kể cả đấu tranh pháp lý, không mong muốn chiến tranh, xung đột xảy ra nhưng phải chuẩn bị tất cả mọi phản ứng.

Sắp tới đây, Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (Hà Lan) sẽ đưa ra phán quyết về đường lưỡi bò trên Biển Đông và sẽ có tác động đến các bên tranh chấp, trong đó có Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ), với tư cách là một nước có lãnh thổ và bờ biển dài nhất, tức là có vùng đặc quyền kinh tế rộng nhất trong khu vực, cộng thêm với thực tế là nước chiếm hữu nhiều thực thể địa lý nhất ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam cần khéo léo tranh thủ phán quyết của tòa án quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc mình.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long khẳng định: “Phán quyết của Tòa Án Thường Trực lần này nếu định nghĩa rõ ràng là yêu sách đường lưỡi bò không có cơ sở luật pháp và Trung Quốc không được dùng cái “chủ quyền có tự ngàn xưa” này để cản trở lưu thông trên biển và trên không trong khu vực Biển Đông, thì ảnh hưởng sẽ rất tích cực đối với Việt Nam.”

Theo các nhà quan sát, phán quyết sắp tới không chỉ tác động đến Philippines và Trung Quốc, mà sẽ có ảnh hưởng trên các nước tranh chấp khác, từ Malaysia, Philippines, cho đến Việt Nam.

Tuy nhiên, theo Báo Nikkei của Nhật Bản hôm qua, ngày 29 tháng 5 năm 2016 tường thuật rằng Thủ Tướng Lào Thongloun Sisoulith đưa ra lời kêu gọi đàm phán song phương giữa các nước tranh giành chủ quyền để giải quyết các cuộc tranh chấp Biển Đông,

Asia Nikkei Review dẫn lời ông Thongloun nói :“Trong cương vị Chủ tịch ASEAN, Lào sẽ dồn mọi nỗ lực để tạo ra một môi trường thuận lợi cho đối thoại tích cực giữa các nước liên quan.”

Đúng như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý: “Thời buổi này, ai cũng phải nghĩ đến lợi ích quốc gia dân tộc mình, nên tạo sự ủng hộ của quốc tế cũng cần thực chất, thực lòng.”

Nhưng theo Tờ Nikkei Asian Review dẫn lời cựu Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong: “nên giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982”.


Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 01 tháng 06 năm 2016