Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

Chuyện về hưu

Tôi làm đơn xin từ chức để về hưu từ ngày 25 tháng 7 năm 2014. Đến ngày 18 tháng 9 năm 2014 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê chuẩ...

Chuyện nhỏ cho con: Chuyện về hưu

Tôi làm đơn xin từ chức để về hưu từ ngày 25 tháng 7 năm 2014. Đến ngày 18 tháng 9 năm 2014 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê chuẩ...

Chuyện nhỏ cho con: Ký ức 40 năm tổng tuyển cử bầu Quốc hội 25-4-1976

Chiến tranh kết th́úc vào Mùa Xuân năm 1975, non sông đã về một mối, nhưng về tính pháp lý và địa vị quốc tế, ở hai miền vẫn tồn tại hai nh...

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Ký ức 40 năm tổng tuyển cử bầu quốc hội 25-4-1976



Chiến tranh kết th́úc vào Mùa Xuân năm 1975, non sông đã về một mối, nhưng về tính pháp lý và địa vị quốc tế, ở hai miền vẫn tồn tại hai nhà nước với hai chính phủ khác nhau, đó là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Vì vậy, thống nhất đất nước vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là nguyện vọng thiết tha bậc nhất của toàn thể nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, là kỳ vọng lớn lao của cả dân tộc về xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, phồn vinh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Từ kết quả của Hội nghị Hiệp thương chính trị đại biểu nhân dân hai miền Nam - Bắc, Hội đồng bầu cử toàn quốc quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất vào ngày 25-4-1976, theo những nguyên tắc: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín;

Nhớ lại ngày ấy, Chủ nhật 25/4/1976 là thời khắc quan trọng với những ký ức không thể phai mờ. Với tư cách là một công dân của một quốc gia độc lập, là cử tri, ai cũng phấn chấn, háo hức khi lần đầu tiên sau chiế́n tranh được cầm lá phiếu trên tay đi bầu Quốc hội. Không ai giấu nổi cảm xúc vinh dự, tự hào xen lẫn những kỳ vọng lớn lao vào Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất!

Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân tộc Việt Nam. Trong không khí tưng bừng với cờ hoa, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, thực hiện quyền tự quyết bầu ra cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam; nhà nước của một dân tộc vừa giành được độc lập, tự do!


Kết quả của Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội càng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh: “độc lập, tự do của dân tộc chỉ trở lên cao quý khi đó là một nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn và bền vững”. “Độc lập phải gắn với quyền tự quyết của dân tộc, các dân tộc không phân biệt lớn, nhỏ đều có quyền tự quyết định vận mệnh của mình”;

Độc lập dân tộc phải gắn với cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Có như vậy mới mang lại một nền độc lập thực sự, bền vững; độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, dân chủ cho nhân dân, vì theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do thì độc lập chẳng ý nghĩa gì”.

Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội đã phản ánh đậm nét tính dân chủ nhân dân và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc; phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”, “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Người căn dặn chúng ta: “Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của tổ tiên, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người”. Chính Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha.

Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV, nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng và kỳ vọng lớn lao vào Quốc hội khoá mới nhanh chóng triển khai hiện thực đầy đủ, có hiệu quả lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và các chủ trương của Đảng:

“Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc; đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung; xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác trên tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển của đất nước về các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội, hướng tới tương lai tươi sáng của dân tộc”.

Xác định đúng bạn, thù, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu cao nhất!


Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm, ngày Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam (25/4/1976-25/4/2016)

Cần Thơ, ngày 22 tháng 04 năm 2016

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Ký ức về một Liên bang Xô viết



Cách nay hơn một phần tư thế kỷ, tôi rất may mắn vì được sống và học tập ở Liên Xô. Tôi đã rất tự hào về một Liên bang Xô viết thịnh vượng, là thành trì của hòa bình thế giới, đất nước phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa…,

Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội… để lại làm nền tảng vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ của nước Nga hiện nay và cả mai sau.


Tôi luôn cảm nhận rằng đất nước Liên Xô rất vĩ đại, đất nước Nga ngày nay cũng vậy. Trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, nước Nga vẫn đứng vững và phát triển, vẫn kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách.

Điều để lại cho tôi ấn tượng nhất là tinh thần yêu nước của nhân dân Nga, lòng tự tôn dân tộc và ý chí sắt đá không khuất phục trước khó khăn, gian khổ.

Bà mẹ Nga cũng giống như mẹ Việt Nam, hiền lành, đôn hậu, nhân ái, sẵn sàng sẻ chia mẩu bánh cuối cùng của mình cho bạn bè trong lúc khó khăn.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn đau đáu về nước Nga, về Bà mẹ Nga - Đó là vì ở trên đất Liên Xô khi ấy tôi đã được sống, được bao bọc trong tấm lòng nhân hậu của người Nga, được hưởng tình cảm nồng ấm, chăm lo như đối với người thân từ bạn bè, và trong sự dạy dỗ của thầy cô giáo.

Rồi bỗng một ngày, ngày 25-12-1991, tôi bàng hoàng, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, khi xem TiVi, thấy Mikhail Sergeyevich Gorbachev đọc diễn văn từ chức. Giọng Ông hơi lạc đi vì xúc động:

“ Kính thưa toàn thể nhân dân ”
“ Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm”.


Khi bình tâm lại, tôi nhận ra rằng: Đúng rồi, chuyện gì đến rồi cũng sẽ đến
Một quốc gia đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như xác nhận trong diễn văn từ chức của Mikhail Sergeyevich Gorbachev “ hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể. ”

Ông nêu nguyên nhân: “Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa .”

Hẳn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế – kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào.

Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”

Còn theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý của xã hội Liên Xô là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”

“Chúng ta ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”

Nhiều năm về sau, Mikhail Sergeyevich Gorbachev trả lời phỏng vấn như sau: Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa.

Ông khẳng định “Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.”

Gorbachev nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “ xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”.

Lịch sử nước Nga có biết bao biến cố thăng trầm, yêu nước Nga, Bà mẹ Nga, tôi vẫn luôn tin tưởng đất nước và con người Nga vẫn đứng vững và phát triển.



Trần Thành Lập
Viết nhân 25 năm, ngày xa Liên bang Xô viết
Cần Thơ, ngày 25 tháng 12 năm 2015

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Hãy ý thức từ chuyện nhỏ, để chúng ta luôn sống tốt hơn!



Cuộc sống quanh ta có rất nhiều chuyện. Chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện chung, chuyện riêng, chuyện ăn, chuyện ở, sinh hoạt, đi lại, học hành, đối nhân, xử thế...

Chuyện nhỏ, rất đơn giản nhưng, luôn luôn và rất gần gũi trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.

Không phải là chuyện Quốc gia đại sự. Đây chỉ là chuyện nhỏ, và nhỏ nhưng lại đủ thứ chuyện.

Chuyện Nhỏ là trang ghi chép, là nơi lưu trữ những kỷ niệm vui, buồn mà mình đã từng trải qua trong cuộc sống và để tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, khắc sâu hơn những chuẩn mực, hành vi, đạo đức cần thiết cho bản thân.


Chuyện Nhỏ sẽ thu thập thêm thật nhiều những thông tin hữu ích cho con người, để chúng ta luôn học hỏi và hoàn thiện hơn trong cuộc sống.

Cuộc sống, có nhiều chuyện, dù là chuyện nhỏ, muốn nói với con, với cháu nhưng, không phải chuyện nào cũng có thể nói bằng lời. Thế nên, Chuyện Nhỏ vẫn còn lưu lại những trang ghi chép để chia sẻ cùng con, cùng cháu sau này.

Nếu nhờ đó mà có thể giúp cho con, cho cháu có thêm kiến thức từ thực tiễn cuộc sống mà lớn khôn, và sống tốt với mọi người thì đây cũng là một niềm vui và hạnh phúc của bản thân.

Vâng. Hãy ý thức từ chuyện nhỏ, để chúng ta luôn sống tốt hơn!

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần!



Ngày xưa, má tôi thường nói: “Anh em xa, không bằng láng giềng gần”. Đúng vậy, quan hệ láng giềng - cần thiết lắm, hệ trọng lắm. Bởi đó là mối quan hệ gần gũi, gắn kết, đùm bọc, chia sẻ với nhau, không chỉ trong quan hệ họ hàng, thân tộc, mà cao hơn là sự gắn kết cộng đồng hàng xóm láng giềng.

Trong cấu trúc làng xã truyền thống ở Việt Nam, hàng xóm láng giềng là một nhóm gia đình có mối quan hệ trong khu vực cư trú, nó rất gần gũi, thân thuộc. Đó là tình làng nghĩa xóm, là truyền thống đoàn kết, là tương thân tương ái, được kết tinh trong quá trình lao động, sinh hoạt cộng đồng, đã khẳng định giá trị nhân văn trường tồn từ bao đời nay.

Chính vì vậy, mà từ rất xa xưa, ông cha ta đã sớm xây dựng những thỏa thuận, những Quy ước nhằm thống nhất hóa, chuẩn hóa các mối quan hệ xã hội. Nhờ thế mà tránh được những va chạm, mâu thuẫn; củng cố thêm mối quan hệ tốt đẹp hàng xóm, láng giềng.

Gần đây, trong quan hệ ngoại giao, người ta thường dùng từ “láng giềng” để nói lên mối quan hệ hữu nghị, gần gũi, gắn kết giữa các nước. Đặc biệt, Trung Quốc đã khái quát thành phương châm “4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông. Nhân dân hai nước có mối quan hệ láng giềng truyền thống lâu đời. Có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội…

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu về "tầm nhìn châu Á" đã nhắc lại câu tục ngữ "bán anh em xa, mua láng giềng gần". Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố, các đại dương của châu Á phải trở thành vùng biển hòa bình, đồng thời ông kêu gọi hợp tác an ninh chung toàn diện cho một châu Á bền vững.

Phát biểu tại tọa đàm hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung tại Lạng Sơn, Thượng tướng Thích Kiến Quốc, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc cũng nhắc lại: “Anh em xa, không bằng láng giềng gần”
Đặc trưng của quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ trong lịch sử bang giao hai nước.

Nhưng muốn xây dựng quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác tốt, điều quyết định không phải là lời nói, là khẩu hiệu mà cần phải hành động trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cần có độ tin cậy nhất định.

Thực ra, ngay từ năm 1965, trong cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore … Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản …” (theo sách Sự thật về quan hệ Việt – Trung, của NXB Sự Thật).

Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời Cổ đại cho đến nay, từ các triều đại phong kiến phương Bắc cho đến nay không triều đại nào lại không đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Họ đã dốc toàn lực để đánh, thậm chí còn kích động các lân bang đem lực lượng phối hợp với họ để đánh Việt Nam.

Những cuộc xâm lược đó được biết đến từ những truyền thuyết xa xưa, như truyền thuyết thời Hồng Bàng, quốc gia Văn Lang của Hùng Vương phải phòng vệ trước sự xâm lược của nhà Ân.

Năm 207 TCN, Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương, dẫn đến hơn 1.000 năm Bắc thuộc.
Mãi đến năm 938 khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đánh bại giặc Nam Hán, chấm dứt 1.000 năm Bắc Thuộc, mở đầu thời kỳ độc lập.

Một lần nữa người Việt giành được độc lập, tự chủ cho mình, nhưng tham vọng thôn tính của phương Bắc Trung Quốc không chấm dứt trong suốt hơn 1.000 năm tiếp theo, cho đến hiện tại, ông cha ta tiếp tục đứng lên chiến đấu chống lại các cuộc xâm lược từ Nhà Tống, Nhà Nguyên, Nhà Minh, Nhà Thanh cho đến thời cận hiện đại.

Thật vậy, ngày 19 tháng 01 năm 1974, lợi dụng tình hình ở miền Nam Việt Nam và thế giới, hải quân Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc bắt 49 lính hải quân Việt Nam Cộng hòa làm tù binh. Sau trận hải chiến đó,Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho đến nay.

Ngày 17 tháng 02 năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam với tuyên bố đầy tính giang hồ của Đặng Tiểu Bình là để "dạy cho Việt Nam một bài học".

Cuộc chiến ấy kéo dài chỉ ba tuần nhưng khoảng 30.000 người Việt thiệt mạng, một số địa phương biên giới phía bắc Việt Nam gần như bị hủy diệt hoàn toàn.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, 9 tàu chiến hải quân Trung Quốc có trang bị pháo hạm và lính thủy đánh bộ bất ngờ tấn công 3 tàu vận tải chở công binh Việt Nam đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. Trung Quốc đã bắn chìm 3 tàu vận tải và giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam.

Ngày 01 tháng 05 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng thềm lục địa của Việt Nam, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán của Việt Nam. Đây là một bước leo thang mới cực kỳ nguy hiểm của Trung Quốc.

Chưa dừng ở đó, ngay đầu năm, ngày 02 tháng 01 năm 2016, Trung Quốc đã thực hiện việc bay thử nghiệm ra sân bay mà Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp trên Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Và mới đây, Trung Quốc lại triển khai hỏa tiễn ở Hoàng Sa. Ngày 12 tháng 04 năm 2016, 2 máy bay chiến đấu Thẩm Dương J-11 của Trung Quốc đã được điều động tới đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam.

Đây lại thêm một bước leo thang nghiêm trọng của Trung Quốc. Và điều đó là một mối đe dọa an ninh khu vực và quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Dư luận cộng đồng quốc tế đang bày tỏ quan ngại về những diễn biến mới gần đây ở Biển Đông; Công luận cần phải có một thái độ mạnh mẽ hơn và đặc biệt cần kêu gọi cộng đồng các quốc gia, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, tỏ rõ thái độ rõ ràng, cương quyết hơn và mạnh mẽ hơn trước sự leo thang của Trung Quốc…

Người Việt Nam phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, vì lợi ích quốc gia, dân tộc đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, sản xuất nhiều hàng hóa có chất lượng phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, phồn vinh.

Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Phát huy đoàn kết toàn dân tộc để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đất nước.

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đã là người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, vì lợi ích quốc gia dân tộc, xác định đúng bạn, thù; phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”, “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Người căn dặn chúng ta: “Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của tổ tiên, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người”. Chính Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha.

Phải tận dụng tất cả các kênh truyền thông trong nước và quốc tế, báo viết, phát thanh, truyền hình, kể cả Internet, mạng xã hội để đưa những thông tin lịch sử minh chứng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Việc tăng cường tiềm lực quốc phòng là cần thiết để phòng vệ.

Xét từ góc độ địa lý, Trung Quốc là quốc gia láng giềng của Việt Nam, của khu vực Đông Nam Á, và rộng hơn là toàn vùng Đông Á, là một nước lớn, là người láng giềng đặc biệt, là một quốc gia Châu Á có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội trong khu vực.

Câu tục ngữ “bán anh em xa, mua láng giềng gần” hay “Anh em xa, không bằng láng giềng gần” để chỉ một lối hành xử trong quan hệ xã hội. Ở đây, là người Việt Nam không ai muốn phải “bán anh em xa”, mà luôn luôn với thiện chí “hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần”.


Trần Thành Lập
Viết nhân ngày 01 tháng 05 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng thềm lục địa của Việt Nam

Cần Thơ, ngày 30 tháng 04 năm 2016

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Ký ức về một mái trường



Chiến tranh kết thúc, qua rồi một thời đội bom, đạp đạn, tôi được cơ quan cử đi học bổ túc văn hóa. Bỏ lại sau lưng sự tàn khốc của chiến tranh, tôi lại được cấp sách đến trường- Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang.

Bốn mươi năm, hơn nửa đời người, những ký ức về mái trường xưa lại hiện về, tôi như được sống lại những ngày tháng cũ, những ngày học trò hồn nhiên thơ mộng.

Dù thời gian cứ trôi, dù cuộc sống đã trải qua bao thăng trầm, nhưng nhiều kỷ niệm đẹp về thầy cô, bạn bè trong những tháng năm học tập và rèn luyện dưới mái trường thân yêu vẫn mãi mãi còn đọng lại trong tôi...

Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang được thành lập năm 1976. Bởi vì sau chiến tranh, nguồn cán bộ rất thiếu và yếu về văn hoá, việc thành lập Trường Bổ túc văn hóa đã thể hiện tầm nhìn và quan điểm mang ý nghĩa chiến lược của nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương.

Gọi là trường Bổ túc văn hóa Công nông vì mục đích đào tạo là nhằm nâng cao trình độ văn hóa (mỗi năm hai lớp) cho cán bộ đã tham gia kháng chiến và con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Bên cạnh việc học văn hóa, học viên còn được rèn luyện tính tổ chức kỷ luậ̣t, biết sống hòa đồng trong một tập thể, biết đoàn kết, giúp nhau trong cuộc sống, lao động và học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương sau chiến tranh.

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy ngôi trường tọa lạc trên khu đất rộng có 3 tòa nhà một trệt, một lầu (được tiếp quản từ chế độ Sài Gòn) với 40 phòng đáp ứng yêu cầu học ba buổi: sáng, chiều, tối cho học viên. Gần đó, có một thư viện với hàng nghìn đầu sách đủ điều kiện phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu giảng dạy, học tập của thầy cô giáo và học viên.

Khu nhà tập thể với trên 100 phòng (cũng được tiếp quản từ khu gia binh chế độ Sài Gòn) dành cho 400 học viên nội trú. Có nhà ăn tập thể được trang bị đơn sơ phục vụ yêu cầu 3 bữa ăn hàng ngày cho học viên nội trú.

Thời tôi học, mọi thứ còn rất khó khăn. Việc phân phối hàng lương thực, thực phẩm theo kế hoạch: gạo 15 kg/tháng, thịt heo 1 kg/tháng, đường 0,8 kg /tháng, bột ngọt 0,3 kg /tháng, vải mặc 5 m/năm. Riêng chị em nữ được phân phối thêm 1 m vải mùng (bao cấp mà).

Có những lúc quá khó khăn, thầy trò chúng tôi ăn uống kham khổ suốt nhiều tháng liền. Thiếu gạo phải ăn bo bo, bột mì, khoai lang. Thức ăn chủ yếu là cá biển, rau muống nấu với nước lã cho bột ngọt vào làm canh... Vất vả là thế, nhưng thầy trò chúng tôi vẫn sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tự tin, cố gắng vươn lên dạy tốt, học tốt.

Chúng tôi luôn tự hào, một thời đã được làm học trò của một ngôi trường luôn vượt lên trên mọi khó khăn, thách thức với một đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên tâm huyết, tận tâm, tận lực, chí nghĩa, chí tình “tất cả vì học sinh thân yêu”.

“Không thầy đố mầy làm nên”. Đúng rồi, chính thầy cô đã cho chúng tôi tri thức, chính thầy cô đã dạy chúng tôi đạo lí làm người, chính thầy cô đã để lại tấm gương sáng về không màng danh lợi, không chuộng hư vinh, hết lòng đào tạo nhiều thế hệ học viên đã trưởng thành. Nhiều người đã trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nhân thành đạt...

Chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn thầy cô giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang!

Còn nhiều lắm, nhiều lắm những kỷ niệm về trường xưa… 40 năm nhìn lại, bâng khuâng với những kỷ niệm xưa, nghĩ về sự học ở hiện tại, kỳ vọng về một nền giáo dục trong tương lai!



Trần Thành Lập

Viết nhân 40 năm, ngày thành lập Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang

Cần Thơ, ngày 28 tháng 04 năm 2016