Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện riêng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện riêng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017
An tâm làm việc đi con!
Chuyển nhà trọ cho con từ Long Thành, Đồng Nai về. Buồn buồn, vui, vui! Buồn vì thương con phải xa nhà; nơi ăn, chốn ở chưa được tiện nghi lắm! Nhưng không sao, nhà trọ mà, rồi từ từ chắc chắn phải được cải thiện thôi! Còn vui là vì con đã có việc làm đúng với chuyên ngành mà con đã chăm chỉ học hành nhiều năm cả trong và ngoài nước.
Hy vọng, công việc sẽ phù hợp với chuyên môn của con, con sẽ yêu nghề, gắn bó với nghề và thành đạt trong sự nghiệp.
Steve Jobs cố CEO hảng APPLE có câu nói rất hay: “làm một công việc bạn thích, bạn sẽ chẳng phải đi làm ngày nào vì mọi ngày đi làm đều như những ngày bạn hiện thực hoá giấc mơ”.
Vừa lo làm việc nhưng con cũng chú ý giữ gìn sức khỏe. Vì “sức khỏe là vàng”, “có sức khỏe là có tất cả”. Không phải ngẫu nhiên mà người ta có những so sánh như vậy.
Cha thường hay nói vui "còn trẻ lấy sức khỏe đi kiếm tiền, về già lấy tiền để kiếm sức khỏe". Cho nên, làm gì thì làm, con cũng phải biết giữ gìn sức khỏe của chính mình. Sức khỏe tốt, cuộc sống lạc quan, suy nghĩ tích cực sẽ biến khó khăn thành cơ hội để thành công trên đường đời!
Một lần nữa, tất cả những gì giờ đây Cha mẹ mong mỏi là các con thật khỏe mạnh, biết tự lo cho bản thân và lo cho gia đình của mình; vợ chồng các con hạnh phúc, hòa thuận, nuôi dạy MiLô, MiNa khỏe mạnh, chăm, ngoan là Cha và mẹ vui lắm rồi! Trước mắt, MiLô, MiNa ở nhà có ông bà nội, ngoại tiếp lo. Con an tâm!
Cha luôn tin, với kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, bản lĩnh vốn có sẽ giúp các con thành đạt trong cuộc sống!
An tâm làm việc đi con!
Viết cho con
Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2017
Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016
Học nói
Dù bạn là ai, làm nghề gì, công nhân hay nông dân, thầy giáo hay bác sĩ, cán bộ hay công chức đều cần phải “nói” khi giao tiếp. Nói chuyện gì? Nói với ai? Nói ở đâu? Nói lúc nào?
Ông bà ta vẫn thường dạy: "Lời nói chẳng mất tiền mua… "
Vì vậy, khi giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp thì cũng tùy đối tượng mà lựa lời để nói. Nói ngắn gọn, trọng tâm, chính xác, súc tích, dễ hiểu, sẽ hấp dẫn và làm cho người nghe hài lòng.
Muốn nói hay thì phải học cách nói của nhiều người và tự mình rèn luyện, gọt giũa lời nói, diễn đạt lưu loát một cách tự tin. Nói bằng chính cái tâm, bằng kiến thức của chính mình.
Nói chuyện, hay phát biểu, hoặc diễn thuyết trước công chúng giống như một môn nghệ thuật, đòi hỏi không những kỹ năng mà còn cần có vốn kiến thức sâu rộng, sự tự tin, khả năng làm chủ tình huống… Phải thể hiện được trí tuệ, thái độ, tâm huyết, tình cảm, phong cách cá nhân dể thuyết phục người nghe hơn là đọc.
Tôi rất ấn tượng với phát biểu của Tổng thống Mỹ Barack Obama trước đông đảo sinh viên, trí thức và danh nhân trẻ Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia sáng 24.5.2016.
Ông đề cập nhiều vấn đề trong quan hệ Việt - Mỹ từ quá khứ, hiện tại và tương lai, mang lại nhiều cảm xúc từ cách dẫn dắt, truyền tải cho tới thông điệp gửi gắm cho thế hệ trẻ Việt Nam.
Những gì ông nói ra đều như tự mình suy ngẫm, nung nấu nên rất tự nhiên, rất tâm huyết và rất thuyết phục!
Rất tiếc, có nhiều người khi trước đám đông chỉ đọc những bài do người khác viết trước, không bằng chính cái tâm, bằng kiến thức của chính mình, nên rất ít sức thuyết phục.
Học đi con! Muốn nói hay thì phải học!
Viết cho con
Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2016
Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016
Học đi con!
Con trai đi tập huấn. Buồn buồn, vui, vui! Buồn vì thương con phải xa nhà. Nhưng không, vui nhiều hơn. Vui vì con được chọn cử đi học và vì con rất ham học!
Có người nói với tôi, sao không tìm cho cháu một biên chế trong cơ quan nhà nước vừa nhàn vừa có thu nhập vừa dễ tiến thân?
Tôi chỉ cười! Thực ra, các cháu nhà tôi ham học và chỉ làm việc theo chuyên môn mà các cháu đã được đào tạo thôi.
Có lần, con trai thứ của tôi tâm sự, con muốn học thêm ngoại ngữ trước khi xin việc làm. Tôi ủng hộ ngay, vì suy nghỉ của cháu rất đúng!
Giỏi chuyên môn, biết ngoại ngữ, có kinh nghiệm từ thực tiễn, chắc chắn các con sẽ làm việc tốt, sẽ thành đạt!
Quan trọng là phải học! An tâm học đi con!
Viết cho con
Cần Thơ, ngày 01 tháng 11 năm 2016
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016
Mình thương bà nội!
“Mình thương bà nội”. Một câu nói ngay thơ của MiLô, làm bà nội rất vui, còn tôi thì vô cùng xúc động, bởi đây là lời nói từ tâm của cháu tôi!
Với MiLô, bà nội là người luôn dịu dàng, nhân hậu, không ngại khó, ngại khổ, hết lòng yêu thương mẹ cháu và các cháu.
Ngày ngày, bà lo lắng, chăm sóc cho mẹ cháu chu đáo từ việc ăn uống, đi lại, nghỉ ngơi để hai mẹ con cháu được khỏe mạnh.
Ngay cả chuyện giặt giũ, ăn, uống, học hành bà cũng “phục vụ” rất chu đáo. Cả ngày bà vật lộn lo cơm nước, tắm rửa, giặt giũ cho các cháu, quên luôn cả việc đi ăn sáng với gia đình vào thứ bảy, chúa nhật.
Đêm khuya, tưởng bà được nghỉ ngơi nhưng rồi vẫn phải lục đục trở mình vì thi thoảng cháu khóc nhè. Nhất là lúc trái gió trở trời thì bà nội lo đến mất ăn, mất ngủ.
Cực thì có cực nhưng bà nội vui và hạnh phúc lắm!
Có lẽ do trùng ngày sinh, nên bà nội rất thương MiLo, nhưng cũng là người cực nhất với MiLo. Vì MiLo khá năng động và tự tin, nên dạy dỗ cũng khá vất vả.
Nay, Milô đã tròn ba tuổi, đã đi học mẫu giáo, ngoan hơn, biết ca hát, biết thưa ông, thưa bà, biết chúc ông, chúc bà ngủ ngon, thương em Mina. Ăn nhanh hơn, tự uống sửa, và khi mắc tiểu biết gọi bà nội: “tiểu, tiểu”
Nhân ngày sinh nhật của bà và cháu, ông Ẵm chúc bà nội luôn vui, khỏe, nuôi cháu khỏe, dạy cháu ngoan!
Ông mong cháu Milô ăn nhiều, mau lớn, khỏe mạnh, chăm, ngoan, học giỏi!
Cần Thơ, ngày 15 tháng ̣10 năm 2016
Ông Ẵm
Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016
Hãy tự tin bạn sẽ thành công!
Chưa thành công chứ đâu phải đã thất bại. Nhưng, nếu có thất bại thì đó cũng chính là bài học quí để bạn thành công.
Người ta thường nói: “Thất bại là mẹ thành công”. Bạn chưa thành công? Không sao!
Đừng bao giờ bỏ cuộc, hãy cố gắng thêm một lần nữa. Hãy tự tin lên, bạn sẽ thành công!
Bạn xuất thân từ gia đình nông dân, công nhân, nhà giáo hay quan chức? Không quan trọng!
Bạn không được kế thừa xe sang, nhà cao cửa rộng? Không sao!
Đó không là thành công của bạn. Bạn có sức khỏe, có trí tuệ, có niềm tin, chắc chắn bạn sẽ thành công!
Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bạn cũng đừng đánh mất sự tự tin. Nếu không có niềm tin vào chính bản thân mình, bạn sẽ không làm được gì cả.
Ai cũng hiểu một triết lý: “Mất tiền, bạn có thể kiếm lại được tiền, mất sức khỏe bạn vẫn có thể phục hồi được sức khỏe, mất danh dự bạn có thể khôi phục được danh dự nếu có thời gian và lòng quyết tâm, mất niềm tin bạn vẫn có thể tìm lại được niềm tin bằng tình cảm con người. Và bạn có thể sẽ mất tất cả khi bạn buông xuôi và không còn tin vào mình nữa.”
Bạn có biết anh em nhà Wright? Họ chỉ là những người sửa xe đạp bình thường, nhưng chính là những người sáng chế ra chiếc máy bay đầu tiên trên thế giới.
Để có được thành công này, họ đã trải qua không biết bao nhiêu lần thất bại. Và cũng chỉ khi có niềm tin thì họ mới có thể tiếp tục công việc của mình.
Còn Henry Ford – cha đẻ của hãng xe hơi Ford nổi tiếng trên thế giới chưa tốt nghiệp một trường lớp nào và từng không xin được việc làm vì không có bằng cấp…
Hay ông Soichirô Honda – người sáng lập ra hãng Honda đã từng không dưới 50 lần thất bại và có khoảng thời gian là người vô sản…
Có thể bạn biết rất rõ Bill Gates – chủ tịch tập đoàn Microsoft bỏ dở việc học ở trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ để theo đuổi ước mơ thành lập Công ty Microsoft.
Đến nay, Bill Gates trở thành người giàu nhất thế giới với khối tài sản khoảng 90 tỷ USD.
Và thật đáng khăm phục Nick Vujicic – một người thanh niên không chân, không tay, anh đã khiến cả thế giới biết tới mình bằng một nghị lực phi thường.
Chính trị gia mà tôi rất ngưởng mộ nhất, chính là Franklin Delano Roosevel, Tổng thống Mỹ thứ 32, người được biết đến như một huyền thoại trong lịch sử nhân loại.
Năm 39 tuổi, ông bị bệnh bại liệt. Căn bệnh quái ác khiến ông không còn khả năng đi lại.
Song, bằng nghị lực phi thường, trên xe lăn, ông đã lãnh đạo nhân dân Mỹ vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng và chiến tranh thế giới lần thứ II. Ông là Tổng thống Mỹ duy nhất đắc cử suốt bốn nhiệm kỳ.
Để trở thành một Tổng thống vĩ đại như thế trong lịch sử Mỹ, Franklin Roosevelt đã học tập miệt mài trong suốt quãng đời thanh xuân.
Ông cũng chính là bằng chứng tiêu biểu cho những vĩ nhân của thế giới có sự nghiệp học hành không bó hẹp trong phạm vi trường học.
Chính những trải nghiệm thực tế tích luỹ trên “trường đời” đã giúp ông trở thành Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Đó là những tấm gương!
Sống có ước mơ, nhiệt huyết và hoài bão, hãy luôn luôn hoàn thiện mình, nhìn nhận những khuyết điểm, thậm chí là thất bại để khắc phục. Hãy tự tin, chắc chắn bạn sẽ thành công!
Viết cho con
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 7 tháng 10 năm 2016
Thứ Hai, 12 tháng 9, 2016
Tuổi thơ tôi và lời ru của má
Cuộc sống vốn dĩ rất bộn bề. Nhưng khi phải đối diện với những ngã rẽ của cuộc đời, ta lại mơ, lại nhớ về với năm tháng êm đềm của tuổi thơ.
Tuổi thơ - mỗi khi nhắc đến ai cũng bồi hồi cảm xúc với những kỷ niệm vui, buồn …
Tuổi thơ tôi cũng lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! "Ba", "Má" hai tiếng quá gần gũi, quá thân thương ngay từ những tiếng nói bập bẹ đầu đời.
Tuổi thơ tôi cũng có biết bao kỷ niệm bên chiếc võng đu đưa, kẽo kẹt, nhịp nhàng lẫn trong tiếng ru ngân nga giữa trời đêm tĩnh mịch ở thôn quê nghe mênh mông rì rào tình cảm biết chừng nào...
"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi…”
Chiếc cầu tre nó lắt lẻo, nó gập ghềnh nên có lần tôi bị trượt chân té xuống kinh, bị dòng nước cuốn ra sông, nhưng nhờ anh Hai hàng xóm cứu, chứ không thì tôi đã vĩnh viễn đi theo ông bà rồi.
Khó đi là vậy, nhưng:
“Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học
Ầu ơ, con đi trường học
Mẹ đi trường đời… "
Những lời ru ấy nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con...
Tuổi thơ tôi cũng gắn liền với sông nước nặng tình phù sa, với những cánh đồng trải dài vô tận, thẳng cánh cánh cò bay.
“Ầu ơ...Gió đưa gió đẩy…về rẫy ăn còng về sông ăn cá…
Ầu ơ… về sông ăn cá...về đồng ăn cua…”
Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!
“Ầu ơ người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên bể lặng
Ầu ơ…trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”
Bởi cánh đồng là nơi mưu sinh, là sân chơi với nhiều kỷ niệm ngọt ngào và trong sáng, là nơi có những niềm vui, nỗi buồn của tuổi thơ tôi...
“Ầu ơ ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất
Ầu ơ bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
Ầu ơ ầu ơ”
Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy phải biết thương người với cái nghĩa, cái tình:
“ầu ơ...tìm vàng tìm bạc dễ tìm chứ tìm câu nhân nghĩa
ầu ơ...tìm câu nhân nghĩa khó tìm lắm thay”
Qua lời ru, má dạy chúng tôi về cách đối nhân xử thế;
“Ơ ầu ơ ơ con người có cội mà có tông
Ơ như cây có cội
Ơ ầu ơ ơ như cây có cội ơ ầu ơ
Ơ như cây có cội như sông có nguồn”
Lời ru của má chính là lời dạy bảo, lời nhắn nhủ, là ước mong, là khát vọng của má mong các con sẽ khôn lớn thành người.
“Ơ ầu ơ ơ ầu ơ… ơ cây xanh thì lá.... nó cũng xanh
chứ cha mẹ hiền lành ơ.... ầu... ơ
ơ cha mẹ hiền lành để đức... cho con”
“Ơ... ầu... ơ…ơ trồng cây mong ước cây xanh
chứ cha mẹ sinh thành
Ơ.. ầu... ơ…ơ cha mẹ sinh thành mong ước con khôn
ơ... ầu... ơ… ơ.. ầu.. ơ”
Má còn dạy chúng tôi biết hiếu hạnh, lễ nghĩa, biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống đời thường:
“Ơ ầu ơ
Ơ chim khôn tránh bẫy tránh lồng
Chứ người khôn tránh tiếng
Ơ ầu ơ
Ơ người khôn tránh tiếng
hồ đồ mới khôn"
“Ầu ơ...tôm càng lột vỏ bỏ đuôi, giã gạo cho trắng
Ầu ơ... Giã gạo cho trắng… mà nuôi mẹ già…”
Đời đã hai màu tóc, nhưng tôi vẫn luôn nhớ về tuổi thơ, nhớ những luống cày, nhớ màu xanh non của mạ, nhớ cánh đồng vàng của mùa lúa chín, nhớ cả mùi rơm thơm khi đốt đồng, nhớ cả tiếng chim chiều, nhớ nhất là lời ru của má:
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau…”
“Chiều chiều” rồi lại “chín chiều”, cái điệp khúc buồn ấy đã làm tim tôi se lại…Nhớ má!
Trần Thành Lập
Viết nhân mùa Vu Lan
Cần Thơ, ngày 12 tháng ̣9 năm 2016
Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016
Nhớ Ba
(Bài đăng lại)
Gần đến ngày giỗ của Ba. Vậy mà đã 15 năm rồi Ba đi xa. Với con, chuyện như vừa xảy ra hôm qua. 15 năm, lúc đó con không còn nhỏ, đủ để hiểu mất mát ấy lớn thế nào! Đến nay, con vẫn chưa tin rằng, con đã vĩnh viễn mất Ba!
Tôi sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo. Lúc tôi còn nhỏ xíu xiu, thì ba tôi đã đi làm cách mạng. Mỗi khi nghe tiếng bom rền ỏ chân trời Tây, thì lại lo sợ cho Ba, cô Út và Chế tôi.
Năm tháng trôi đi nhưng hương vị của món canh rau tập tàng từ ngọn bí, rau bồ ngót, rau dền cơm, mồng tơi, do Ba trồng nấu với tép lột ăn với cá bống dừa kho tiêu, do Ba ṭôi bắt là món ăn khoái khẩu luôn gắn liền với tuổi thơ tôi.
Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết quan tâm, thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống; khiêm tốn, lễ phép, lịch sự với mọi người; biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống!
Ba tôi là người sống có tình cảm, có trách nhiệm với các con! Dù ở xa, dù bận nhiều việc nước, chiến tranh hay hòa bình, lúc nào cũng quan tâm đến các con. Tết, ba tôi không về, viết thư cho má và các con:
"Riêng Hồng, Tỷ, Lập, Nghiệp, Sở, Bằng và Tổng, Thúy,
Ba mừng các con một tuổi lớn khôn hơn!"
Ba tôi dạy, sống phải luôn có kỷ luật, triệt để tôn trọng quy định chung. Gửi thư cho Má, Ba tôi dặn:
"Lúa mùa nay đã gặt xong chưa
Trả nợ nần nhưng nhớ phải chừa
Đóng đảm phụ yêu cầu đúng mức"
Chỉ vậy thôi cũng đủ thấy Ba tôi là người luôn tôn trọng kỷ cương, phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.
Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng.
Chiến tranh vẫn ác liệt, trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.
Ở chiến khu, dù khó, khăn vất vả, Ba vẫn tranh thủ đến thăm Cô Út, chế Hai và tôi. Có lần vì cảm lạnh, Ba ho nhiều. Thương Ba quá Cô Út và tôi bò đến gần đồn Vĩnh Hưng tìm cây thuốc dòi về sắc cho Ba uống.
Nhớ lại những tháng năm tôi học ở Liên Xô, Ba thường xuyên gửi thư động viên tôi tập trung học tập và rèn luyện thật tốt để sau này về phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân...
Ba ơi! Các con, cháu đều đã trưởng thành, là những người sống có ích cho xã hội. Ba hãy tự hào về con cháu của Ba! Ở đâu đó, hãy chứng kiến và mỉm cười với những gì con cháu Ba đã làm.
Thắp nén nhang, con nguyện cầu Ba sớm siêu thoát! Phù hộ, độ trì cho các con, các cháu khỏe mạnh, hạnh phúc, chăm ngoan, học giỏi, thành đạt!
Viết những dòng này vào mùa Vu Lan, xem ti vi thấy những bông hồng cài áo, những giọt nước mắt nhớ Ba... Tim tôi se lại!
Trần Thành Lập
Viết nhân 15 năm ngày giỗ Ba, mùa Vu Lan
Cần Thơ, ngày 15 tháng ̣9 năm 2015
Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016
Chúng tôi có một đại gia đình
Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có gia đình và có một quê hương để mà thương mà nhớ. Nơi ấy là nơi ta cất tiếng khóc chào đời có nhiều kỷ niệm của tuổi thơ với biết bao niềm vui, nổi buồn cho đến khi trưởng thành.
Tôi cũng sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo, nghèo lắm. Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!
Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống.
Từ lúc còn bé xíu xiu, tôi rất yêu cái cảm giác được cùng gia đình quây quần bên mâm cơm bốc khói, vừa thưởng thức những hương vị thơm ngon của món canh chua cá lóc do má nấu. Ăn canh chua cá lóc, nhấm nháp vị chua đặc trưng của me hòa lẫn vị thơm thơm bùi bùi của thịt cá lóc, vị thơm ngọt ngào của rau thơm, rau quế, vị mặn mà của nước mắm nguyên chất của quê hương.
Những ngày Tết, tôi thích nhất là nồi thịt kho với hột vịt do má nấu. Thịt ba rọi nửa nạc nửa mỡ, nước thịt trong ngần vương lớp mỡ trong veo, miếng thịt thơm, mềm mà không ngấy mới ngon. Nồi thịt kho ngon để nửa tháng vẫn còn thơm lừng. Món này ăn với cơm trắng và dưa giá rất ngon.
Khi trưởng thành, dù mỗi người mỗi nơi, nhưng năm nào cùng vậy, cứ ngày mùng một Tết là anh chị em chúng tôi về nhà để đón Tết cùng ba má. Con cháu về đông đủ, má tôi mừng ra mặt. Ngày Tết là ngày ba má, gia đình tôi vui vẻ nhất. Các anh, chị, em chúng tôi đều tề tựu đông đủ để vui Xuân, đón Tết cùng gia đình.
Hạnh phúc nhất, vui vẻ nhất trong những ngày Tết có lẽ là được ông bà, ba má lì xì, chúc phúc̀. Rồi các cháu, các con xúm lại quanh ba má tôi để mừng tuổi ông bà. Niềm hân hoan, niềm vui lúc này dâng trào nơi khoé mắt má tôi.
Có nỗi nhớ nào hơn là nỗi nhớ nhà, nhớ ba, nhớ má. 16 năm rồi, lúc đó tôi không còn nhỏ, đủ để hiểu mất mát ấy lớn thế nào! Đến nay, tôi vẫn chưa tin rằng, gia đình mình đã vĩnh viễn mất Ba!
Có những đêm dài thèm nghe lời ru của má, những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con... Nhưng đã 6 năm rồi gia đình mình vắng má. Không ai tin là má đã đi xa…!
Nhưng nhờ ơn đức của má ba, chúng tôi còn có một gia đình, một đại gia đình. Ở đây có anh, có chị, các em, các cháu. Đây vừa là cái nôi, vừa là mái ấm, vừa là trường học cho mọi thành viên trong đại gia đình.
Theo lối sinh hoạt đã thành thông lệ, mỗi tuần gặp gỡ nhau vào thứ bảy và chủ nhật, Đây cũng là dịp sum họp gia đình, vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn, vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách. Đây là truyền thống của gia đình tôi!
Thèm lắm được một lần trở về với gia đình tuổi thơ, nơi đó có hơi ấm của ba, có tình thương của má, có tiếng cười đùa của chị em tôi!
Viết nhân Ngày Gia đình Việt Nam
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 27 tháng 06 năm 2016
Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016
Tiếng "cảm ơn", lời "xin lỗi”- bài học đầu tiên
Có những "chuyện lớn" mà không quan trọng, nhưng có những "chuyện nhỏ" mà không hề nhỏ và rất quan trọng!
Ông bà ta nói: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Những "chuyện nhỏ" vậy mà còn phải học!
Và đã từ lâu tiếng "cảm ơn", lời "xin lỗi” đã trở thành thói quen ứng xử và là bài học đầu tiên mà tôi học được trong gia đình.
Tôi nhớ, ngay từ lúc còn nhỏ, má tôi là người dạy con rất nghiêm khắc. Mỗi lần nhận một chút quà bánh từ bất kỳ ai, tôi đều phải khoanh tay và nói lời "cảm ơn". Tôi cũng thường hay bị má đánh đòn vì tội ham chơi và tôi phải "xin lỗi" má vì cái tội ấy.
Tiếng "cảm ơn" thốt ra làm người nói và người nghe thân thiện hơn, vui vẻ hơn và lời "xin lỗi" chân tình làm cho người ta lịch sự hơn, cao thượng hơn. Đó là chuẩn mực đạo đức cơ bản trong cuộc sống của mỗi người.
Sáu năm du học, nhiều chuyến công du, ấn tượng và bài học đầu tiên của tôi không phải là bài học về công nghệ hiện đại hay những bài học với những từ ngữ, học thuật cao siêu về "thế giới đại đồng" mà là bài học "Cảm ơn" và "Xin lỗi". Đó là hai từ tôi được nghe nhiều nhất ở trường, ở ký túc xá, trên đường phố, trên tàu điện ngầm, trong siêu thị hay bất cứ nơi đâu.
"Cảm ơn" và "xin lỗi"- bài học về phép lịch sự đầu tiên của mỗi người dường như đang bị nhiều người lãng quên. Tiếng "cảm ơn" lời "xin lỗi" đang thưa dần...
Trong đời sống, dần dần có một bộ phận không nhỏ từ học sinh, sinh viên đến cán bộ, công chức, từ trẻ em đến người lớn đã rất ít quan tâm và rất ít sử dụng đến hai cặp từ "cảm ơn" và "xin lỗi".
Ai đã không biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi" vì những điều nhỏ nhất thì không momg làm được những điều vĩ đại!
Hãy biết nói lời "cảm ơn" và "xin lỗi" đúng lúc và khi cần con nhé!
Viết cho con
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2016
Ký ức về một thời lưu học sinh tại Liên bang Xô viết
Năm 1979 tốt nghiệp cấp III bổ túc văn hóa, tôi thi vào Trường Đại Học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Tự tin với kiến thức và hài lòng với bài thi của mình.
Sau một thời gian, bạn bè đều đã nhận giấy báo trúng tuyển. Tôi thì không. Chờ đợi, lo lắng! Rớt sao? Vô lý! Ngày lại qua, tuần lại qua, tôi vẫn tiếp tục chờ. Gần như không còn hy vọng, thì bất ngờ, tôi nhận giấy báo nhập học. Cả gia đình vỡ òa trong hạnh phúc!
Thế là tôi chính thức trở thành sinh viên Trường Đại Học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Lại còn được Ban Giám hiệu Trường chỉ định làm lớp trưởng.
Một năm học rất vất vã cũng qua đi. Với kết quả tốt khá toàn diện, tôi được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp chọn đưa đi du học ở Liên Xô. Đây là niềm tự hào, vinh dự của gia đình và quê hương tôi.
Trước khi đi du học, chúng tôi phải học tiếng Nga một năm ở Trường Đại học ngoại ngữ 97 Võ Văn Tần, thành phố Hồ Chí Minh. Trong số du học sinh có nhiều người như tôi là sinh viên xuất sắc năm thứ nhất từ các trường đại học.
Vượt qua biết bao khó khăn, vất vã, tinh thần học tập của chúng tôi ngày đó rất sôi nỗi, khẩn trương, cuối cùng chúng tôi cũng đạt được trình độ tiếng Nga để đi du học.
Những năm đó đi du học khó lắm. Lý lịch bản thân và gia đình tôi rất tốt. Chỉ có điều tôi mang họ Trần, nên cơ quan chức năng phải xác minh nhiều nơi để làm hồ sơ cấp hộ chiếu. Do đó, đến đầu tháng 10 tôi mới được bay sang thủ đô Moscow (trể hơn bạn bè gần một tháng).
Thế là cuộc đời bắt đầu chuyển sang một bước ngoặt mới. Tạm biệt quê hương, tạm biệt người thân, phải nén lòng nhớ má, nhớ ba, nhớ người thân, nhớ bạn bè để lo cho sự học.
Chiếc máy bay IL 86 của Hãng hàng không quốc gia Aeroflot Xô Viết chở chúng tôi đáp xuống sân bay quốc tế She-re-men-che-vơ Moscow vào sáng mùa thu khi những cánh rừng bạch dương đã ngã sang màu vàng tuyệt đẹp.
Đúng là mùa thu vàng! Thiên nhiên đã ban tặng cho Moscow mùa thu vàng tuyệt diệu khiến những ai đã đi qua nơi đây phải lay động, thổn thức tâm hồn.
Đại diện Ban quản lý lưu học sinh đón chúng tôi từ sân bay về ký túc xá Đại học Tổng hợp quốc gia Lomonosov Moscow. Chúng tôi, những lưu học sinh lại phải trải qua một năm đào tạo về ngôn ngữ, gọi là năm học dự bị ở Moscow.
Trong năm học này các lưu học sinh được học theo một chương trình đào tạo đặc biệt để có thể nắm bắt được ngôn ngữ đứng thứ ba về độ khó so với các ngôn ngữ khác.
Thời gian đầu tiếp xúc với người Nga và được học chung với các bạn sinh viên đến từ nhiều nước trên thế giới, tôi mới hiểu được sự hạn chế về mặt ngoại ngữ của mình.
Nhờ cần cù, chịu khó nên khả năng độc tài liệu, viết bài thu hoạch thì tạm được, nhưng kỹ năng nghe và phát biểu bằng tiếng Nga thì quả là một vấn đề lớn đối với tôi, do không có năng khiếu học ngoại ngữ và bởi đặc trưng ngôn ngữ đơn âm của tiếng Việt.
Tôi thật sự cảm thấy thất vọng và bi quan, nhưng nhờ được thầy cô giáo giúp đỡ hết sức nhiệt tình và vô tư không chỉ trong truyền thụ kiến thức mà cả trong cuộc sống hàng ngày, từ việc ăn ở, đi lại, học hành nên chúng tôi đã nhanh chóng vượt qua, lấy lại được sự tự tin và niềm đam mê trong học tập.
Từ một sinh viên chưa biết tiếng Nga, sau một năm học tập, tôi đã có thể nghe, nói được kha khá và sau học kỳ đầu của năm thứ nhất đã có thể phần nào theo được chương trình học đại học cùng với sinh viên các nước.
Học tiếng Nga, sống cùng các bạn Nga, tôi càng hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa các dân tộc thuộc Liên bang Xô Viết.
Từ những ngày đầu tiên tôi đã bắt gặp những ánh mắt, nụ cười thánh thiện, nhân hậu của người dân Xô Viết; được sống êm đềm, vui vẻ trong tình thương yêu của thầy cô.
Moscow đẹp lắm! ngăn nắp, sạch sẽ và hiện đại! Tôi đã có dịp đến thăm những công trình kiến trúc nỗi tiếng thế giới như: Quảng Trường Đỏ, Điện Kremli, Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lomonosov, tháp truyền hình Octankino, khu triển lãm kinh tế quốc dân, đồi Lê Nin, tàu điện ngầm, những tòa nhà chọc trời, những công viên rộng lớn rợp bóng cây xanh. Con sông Moscow quanh co uốn lượn giữa lòng thủ đô như làm tăng thêm vẽ đẹp thơ mộng của Moscow.
Sau một năm học dự bị, lưu học sinh chúng tôi bắt đầu vào học năm thứ nhất cùng với sinh viên các nước tại Trường Đại học Tổng Hợp Leningrat. Đây thật sự là một trong những giai đoạn khó khăn nhất cần phải vượt qua.
Thành phố Leningrat rất rộng và từng là thủ đô của nước Nga, có nhiều di tích lịch sử đẹp nổi tiếng thế giới như Cung điện Mùa đông, Cung điện Mùa hè, Bảo tàng Puskin, Chiến hạm Rạng Đông, mà tôi cũng đã có dịp đến thăm đôi lần!
Lưu học sinh Việt Nam thời đó không chỉ được học tiếng Nga, khoa học xã hội, khoa học cơ bản, khoa học quản lý, khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến mà còn hiểu sâu sắc về nền văn hóa, lịch sử về đất nước và con người Nga với biết bao chiến công oai hùng trong lịch sử.
Tôi thích tham gia các buổi seminar, vì mọi người góp ý rất nhiều, đặt câu hỏi, nhận xét, tranh luận. Nhất là các buổi seminar có liên quan đến Học thuyết về Nhà nước của Chủ nghĩa Mác-Lênin; hay các chủ đề có liên quan đến kinh tế kế hoạch (còn được gọi là nền kinh tế kế hoạch tập trung hoặc nền kinh tế chỉ huy) hay là kinh tế phi kế hoạch. Từ cơ sở khoa học và thực tiễn, cả thầy và trò tranh luận sôi nổi, quyết liệt.
Lưu học sinh Việt Nam thời đó được các trường đại học Liên Xô cho hưởng chế độ học bổng 90 rúp/tháng, đáp ứng nhu cầu cuộc sống và toàn tâm cho việc học tập.
Nhưng vào các dip hè hoặc nghỉ đông, tôi tranh thủ đi làm thêm, có khi làm cả ca hai, ca ba với thời tiết có lúc –35 độ C, để vừa thực hành hoàn hảo những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa có thêm thu nhập để phụ giúp gia đình.
Học hành và thi cử cũng lắm bận, nhiều phen, cố gắng vượt qua được những lần thi thố khó khăn, vất vã bằng tiếng người, ở xứ người, và rồi cũng cập bến bờ của sự thành công trong học tập!
Sáu năm là lưu học sinh Việt Nam được sống và học tập ở Liên Xô. Tôi đã rất tự hào về một Liên bang Xô Viết thịnh vượng, là thành trì của hòa bình thế giới…
Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội… đã để lại làm nền tảng vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ của nước Nga hiện nay và cả mai sau.
Tôi luôn cảm nhận rằng đất nước Liên Xô rất vĩ đại, đất nước Nga ngày nay cũng vậy. Trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, nước Nga vẫn đứng vững và phát triển.
Tôi rất khâm phục tinh thần yêu nước của nhân dân Nga, ý chí và lòng tự tôn dân tộc, kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách.
Bà mẹ Nga cũng giống như mẹ Việt Nam, hiền lành, đôn hậu, nhân ái, sẵn sàng sẻ chia mẩu bánh cuối cùng của mình cho bạn bè trong lúc khó khăn.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn đau đáu về nước Nga, về Bà mẹ Nga - Đó là vì ở trên đất Liên Xô khi ấy tôi đã được sống, được học, được bao bọc trong tấm lòng nhân hậu của người Nga, được nhận tình cảm nồng ấm từ bạn bè, và trong sự dạy dỗ của thầy cô.
Chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn thầy cô giáo, cảm ơn đất nước Nga, Bà mẹ Nga!
Trần Thành Lập
Viết nhân 30 năm, ngày tốt nghiệp Đại học. Tạm biệt Trường Đại học Tổng Hợp Leningrat.
Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2016
Thứ Năm, 9 tháng 6, 2016
Trở về nơi nuôi tôi khôn lớn
Chiến tranh kết thúc. Tiếp quản trụ sở làm việc, ổn định tổ chức, phân công lại nhiệm vụ cho cán bộ, phóng viên trong cơ quan, tôi và các anh chị đồng nghiệp được phân công trở về vùng căn cứ kháng chiến để thu thập thông tin về sự thay da, đổi thịt của những ngày, tháng đầu sau giải phóng. Đối với tôi, đây cũng là dịp để trở về quê hương, thăm viếng bà con, cô bác, những người đã một thời nuôi, dạy tôi khôn lớn.
Từ Cần Thơ theo liên tỉnh lộ 42 qua Long Mỹ đến Ngã Năm về Hồng Dân; dù đường đi lại còn khó khăn, nhưng một số tuyến đường được nâng cấp đem lại sự hồi sinh cho nhiều vùng xâu, vùng xa của tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu sau bao năm tháng chiến tranh tàn phá.
Theo tập quán, người dân nơi đây luôn bám lấy vệ đường để cất nhà. Mặt tiền dọc theo tuyến đường đi từ Cần Thơ qua huyện Long Mỹ đến thị trấn Ngã Năm nhiều căn nhà bán kiên cố, những tiệm tạp hóa, cơ sở sửa chữa máy đuôi tôm, nhà máy xây lúa đã được dựng lên trên những hố bom năm nào.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, phong trào san lấp hố bom, xây dựng các công trình thủy lợi, khai hoang, mở đất, khôi phục sản xuất, phát triển an sinh xã hội. Màu xanh của cây trái, màu vàng của lúa chín đang xóa dần sự hoang tàn bởi đạn bom và thuốc khai hoang.
Không bao lâu sau chiến tranh, người dân nơi đây đã tự cung cấp đủ lương thực, thực phẩm. Tinh thần lao động của người nông dân Nam Bộ làm năng suất trong sản xuất nông nghiệp vượt xa so với trước chiến tranh.
Phong trào nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào qui trình trồng lúa, cải tạo vườn tạp, trồng cây ăn trái, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh ở nhiều vùng nông thôn. Thanh niên nông thôn đi đầu trong việc tìm tòi sáng tạo các phương pháp sản xuất trồng trọt và chăn nuôi.
Ở mỗi cánh đồng chúng tôi đi qua, chính là chứng tích lịch sử của chiến tranh, bởi mỗi tấc đất, mỗi gốc cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi bông lúa hay mỗi nhành hoa nơi đây đều thấm máu, xương của chiến sỹ và người dân vô tội.
Chúng tôi trở lại ấp Ninh Định, xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng, nơi mà vào sáng sớm ngày 16/1/1973, nhiều máy bay B52 ném hàng loạt bom tấn, sát hại nhiều người dân vô tội. Trong đó có 8 nghệ sĩ, nhạc công của Đoàn cải lương Chuông Vàng, 2 giáo viên ở Tiểu ban giáo dục và rất nhiều người thương vong.
Về đây, chúng tôi còn tỏ lòng tri ân với chiến sĩ, bạn bè, đồng đội, người dân vô tội đã ngã xuống vì chiến tranh. Đứng trước anh linh những người đã khuất, chúng tôi thành kính thắp nén nhang, tưởng nhớ công ơn những người đã hy sinh vì hòa bình, tự do cho mảnh đất này.
Tại những nơi từng diễn ra những trận đánh ác liệt, những ngôi trường mới khang trang vừa được dựng lên. Trẻ em vùng quê đã được cấp sách đến trường. Dù còn có những ngôi trường tre lá tạm bợ nhưng trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường. Nhờ tinh thần học tập mà người dân nơi đây đã xây dựng lại quê hương từ trong đổ nát bởi đạn bom.
Chiến tranh đi qua, chúng tôi đã để lại phía sau lưng mình những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh với biết bao kỷ niệm vui buồn của một thời đạn bom.
Trở về đây, chúng tôi không chỉ tìm lại những kỷ niệm xưa, mà còn chân thành cảm ơn những nghĩa cử cao đẹp của người dân nơi đây, bà con một thời giúp đỡ, yêu thương, dạy dỗ chúng tôi như con cháu của chính mình. Bà con là chỗ dựa tinh thần, là mái ấm tình thương cho chúng tôi trong những tháng năm xa nhà!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 29 tháng 01 năm 2015
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016
Nhiệm vụ đầu tiên của tôi-ghi tin đọc chậm
Nhiệm vụ đầu tiên của tôi-ghi tin đọc chậm
Kết thúc khóa học, trở về cơ quan, tôi được các chú lãnh đạo Tiểu ban Thông tấn-Báo chí quyết định phân công nhiệm vụ: ghi tin đọc chậm. Được trang bị tập, bút và một chiếc radio hiệu National.
Tôi vui lắm vì đây được xem là nhiệm vụ cách mạng- nhiệm vụ đầu tiên được các chú tin tưởng giao cho mình.
Nhưng cũng rất lo vì trình độ chữ nghĩa, văn chương còn kém lắm và cũng chưa có kinh nghiệm ghi chép, nhất là ghi tin đọc chậm, nên tôi phải hết sức cố gắng, khiêm tốn học hỏi, nghiêm túc và tận tụy trong công việc.
Để kịp thời cung cấp thông tin, mỗi ngày Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đều có buổi phát thanh đọc chậm để các địa phương, đơn vị ghi chép phục vụ cho công tác tuyên truyền.
Năm 1972 chiến tranh rất ác liệt, diễn ra trên diện rộng cả Nam và Bắc Việt Nam, có sự tham gia của quân đội Mỹ với hải, lục, không quân.
Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục phát đi các bản tin thời sự nóng hổi từ chiến trường Đông Nam Bộ, Bắc Tây Nguyên, Trị Thiên-Huế; Đồng bằng Nam Bộ, Trung Trung Bộ; các trận đánh trên không ỏ Hà Nội, Hải phòng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh và các vùng lân cận.
Mỗi ngày tôi phải hết sức cố gắng, tập trung ghi chép đầy đủ, chính xác thông tin, trình duyệt kịp thời là đã hoàn thành nhiệm vụ được phân công
Đầu tháng 5 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin: "thị xã Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng". Chép xong bản tin, tôi trình ngay cho đồng chí Tổng biên tập duyệt qua để kịp phát hành.
Sau này, tôi nghe kể lại, trong 81 ngày đêm, nhiều chiến sĩ đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông Thạch Hản, dưới lòng đất Thành cổ Quảng Trị đầy máu và xương. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.
Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương của người Việt đã đổ trên mảnh đất này. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.
Ngày 17 tháng 12 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin không quân Mỹ lại đánh bom miền Bắc Việt Nam. Người Mỹ gọi đây là chiến dịch Linebacker II nhằm "đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá" Họ huy động 197 trên tổng số 400 chiếc B-52, gần một phần hai số máy bay chiến thuật và một phần tư số tàu sân bay.
Nhưng sau 12 ngày đêm, 34 máy bay B-52 đã bị bắn rơi. Nhiều phi cơ chiến lược khác của Mỹ cũng chịu chung số phận.
Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc và họp lại Hội nghị Paris về Việt Nam.
Chiến tranh vẫn ác liệt, lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.
Không khuất phục được ý chí cách mạng của dân tộc Việt Nam, ngày 27.1.1973, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi toàn văn Hiệp định Paris thì từ thành thị đến nông thôn cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Ai cũng tin rằng, chiến tranh đã kết thúc, hòa bình được lập lại ở Việt Nam.
Nhưng Hiệp định vừa ký chưa ráo mực, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành “Kế hoạch tràn ngập lãnh thổ”, phá hoại Hiệp định, chiếm đất, giành dân, xoá vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng và cơ sở cách mạng.
Trên địa bàn Tây Nam Bộ, giao tranh rất ác liệt với hàng trăm tiểu đoàn của nhiều sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn chủ lực, với các loại máy bay chiến đấu hiện đại và các loại bom pháo rải thảm dày đặc, khốc liệt.
Trong bối cảnh cực kỳ ác liệt và phức tạp đó, quân và dân khu 9 liên tục phản công, đánh trả quyết liệt để giữ đất, bảo vệ dân, giành quyền làm chủ, giành thắng lợi.
Năm 1974, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục đưa tin chiến sự và chiến thắng của quân và dân miền Nam. Chiến thắng Đức Phong, Bù Đăng, Bù Đốp, giải phóng Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Phước Long;
Đầu năm 1975, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung Bộ; tiếp đến là Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi cũng được giải phóng.
Quen dần với công việc và từ những tin chiến thắng ngoài mặt trận giúp tôi tự tin hơn, ghi chép đầy đủ tin tức chiến sự, bình luận, xã luận, kịp thời trình duyệt để in ấn, phát hành, làm tài liệu tuyên truyền cho cán bộ ở các đơn vị và địa phương.
Và đầu năm 1975, tôi được phân công đi cùng với lực lượng vũ trang để thu thập thông tin từ chiến trường.
Đầu tháng tư năm 1975 Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đồng loạt đưa tin "chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu". Tin tức thời sự liên tục phát đi "Dinh Độc Lập" bị đánh bom; giải phóng Xuân Lộc, Phan Rang...
Mỹ tuyên bố "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ", Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống của Chính phủ Việt Nam cộng hòa.
11 giờ 30 phút, tôi nhận được tin từ Đài Phát thanh Giải phóng "Sài gòn được giải phóng" lá cờ cách mạng tung bay trên nóc "Dinh Độc Lập". Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Trên đà chiến thắng, các tỉnh Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy, các đảo và cả miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.
Vậy là chiến tranh đã kết thúc! Một cảm xúc nghẹn ngào, một niềm vui khó tả. Không có ngôn ngữ nào diễn đạt được tâm trạng vui mừng của những người đã trải qua khói lửa của đạn bom.
Hoà bình rồi! Chiến tranh kết thúc rồi! Chúng tôi ôm nhau khóc, cười như trẻ thơ, bàng hoàng, ngất ngây.
Mình được sống rồi! Má ơi! Mình được sống rồi!
Tôi trưỏng thành từ cái "nghề" ghi tin đọc chậm.
40 năm chiến tranh đã khép lại. Những đổi thay đang xóa dần sự đổ nát của một thời đạn bom. Nhưng hậu quả của chiến tranh nó cứ ám ảnh, làm day dứt lòng người, vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 26 tháng 12 năm 2014
Kết thúc khóa học, trở về cơ quan, tôi được các chú lãnh đạo Tiểu ban Thông tấn-Báo chí quyết định phân công nhiệm vụ: ghi tin đọc chậm. Được trang bị tập, bút và một chiếc radio hiệu National.
Tôi vui lắm vì đây được xem là nhiệm vụ cách mạng- nhiệm vụ đầu tiên được các chú tin tưởng giao cho mình.
Nhưng cũng rất lo vì trình độ chữ nghĩa, văn chương còn kém lắm và cũng chưa có kinh nghiệm ghi chép, nhất là ghi tin đọc chậm, nên tôi phải hết sức cố gắng, khiêm tốn học hỏi, nghiêm túc và tận tụy trong công việc.
Để kịp thời cung cấp thông tin, mỗi ngày Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đều có buổi phát thanh đọc chậm để các địa phương, đơn vị ghi chép phục vụ cho công tác tuyên truyền.
Năm 1972 chiến tranh rất ác liệt, diễn ra trên diện rộng cả Nam và Bắc Việt Nam, có sự tham gia của quân đội Mỹ với hải, lục, không quân.
Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục phát đi các bản tin thời sự nóng hổi từ chiến trường Đông Nam Bộ, Bắc Tây Nguyên, Trị Thiên-Huế; Đồng bằng Nam Bộ, Trung Trung Bộ; các trận đánh trên không ỏ Hà Nội, Hải phòng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Vinh và các vùng lân cận.
Mỗi ngày tôi phải hết sức cố gắng, tập trung ghi chép đầy đủ, chính xác thông tin, trình duyệt kịp thời là đã hoàn thành nhiệm vụ được phân công
Đầu tháng 5 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin: "thị xã Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng". Chép xong bản tin, tôi trình ngay cho đồng chí Tổng biên tập duyệt qua để kịp phát hành.
Sau này, tôi nghe kể lại, trong 81 ngày đêm, nhiều chiến sĩ đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông Thạch Hản, dưới lòng đất Thành cổ Quảng Trị đầy máu và xương. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.
Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương của người Việt đã đổ trên mảnh đất này. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.
Ngày 17 tháng 12 năm 1972, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin không quân Mỹ lại đánh bom miền Bắc Việt Nam. Người Mỹ gọi đây là chiến dịch Linebacker II nhằm "đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá" Họ huy động 197 trên tổng số 400 chiếc B-52, gần một phần hai số máy bay chiến thuật và một phần tư số tàu sân bay.
Nhưng sau 12 ngày đêm, 34 máy bay B-52 đã bị bắn rơi. Nhiều phi cơ chiến lược khác của Mỹ cũng chịu chung số phận.
Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc và họp lại Hội nghị Paris về Việt Nam.
Chiến tranh vẫn ác liệt, lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.
Không khuất phục được ý chí cách mạng của dân tộc Việt Nam, ngày 27.1.1973, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi toàn văn Hiệp định Paris thì từ thành thị đến nông thôn cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Ai cũng tin rằng, chiến tranh đã kết thúc, hòa bình được lập lại ở Việt Nam.
Nhưng Hiệp định vừa ký chưa ráo mực, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành “Kế hoạch tràn ngập lãnh thổ”, phá hoại Hiệp định, chiếm đất, giành dân, xoá vùng giải phóng, tiêu diệt lực lượng và cơ sở cách mạng.
Trên địa bàn Tây Nam Bộ, giao tranh rất ác liệt với hàng trăm tiểu đoàn của nhiều sư đoàn, trung đoàn, lữ đoàn chủ lực, với các loại máy bay chiến đấu hiện đại và các loại bom pháo rải thảm dày đặc, khốc liệt.
Trong bối cảnh cực kỳ ác liệt và phức tạp đó, quân và dân khu 9 liên tục phản công, đánh trả quyết liệt để giữ đất, bảo vệ dân, giành quyền làm chủ, giành thắng lợi.
Năm 1974, Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng liên tục đưa tin chiến sự và chiến thắng của quân và dân miền Nam. Chiến thắng Đức Phong, Bù Đăng, Bù Đốp, giải phóng Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Phước Long;
Đầu năm 1975, giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh miền Nam Trung Bộ; tiếp đến là Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi cũng được giải phóng.
Quen dần với công việc và từ những tin chiến thắng ngoài mặt trận giúp tôi tự tin hơn, ghi chép đầy đủ tin tức chiến sự, bình luận, xã luận, kịp thời trình duyệt để in ấn, phát hành, làm tài liệu tuyên truyền cho cán bộ ở các đơn vị và địa phương.
Và đầu năm 1975, tôi được phân công đi cùng với lực lượng vũ trang để thu thập thông tin từ chiến trường.
Đầu tháng tư năm 1975 Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đồng loạt đưa tin "chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu". Tin tức thời sự liên tục phát đi "Dinh Độc Lập" bị đánh bom; giải phóng Xuân Lộc, Phan Rang...
Mỹ tuyên bố "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ", Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống của Chính phủ Việt Nam cộng hòa.
11 giờ 30 phút, tôi nhận được tin từ Đài Phát thanh Giải phóng "Sài gòn được giải phóng" lá cờ cách mạng tung bay trên nóc "Dinh Độc Lập". Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Trên đà chiến thắng, các tỉnh Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy, các đảo và cả miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.
Vậy là chiến tranh đã kết thúc! Một cảm xúc nghẹn ngào, một niềm vui khó tả. Không có ngôn ngữ nào diễn đạt được tâm trạng vui mừng của những người đã trải qua khói lửa của đạn bom.
Hoà bình rồi! Chiến tranh kết thúc rồi! Chúng tôi ôm nhau khóc, cười như trẻ thơ, bàng hoàng, ngất ngây.
Mình được sống rồi! Má ơi! Mình được sống rồi!
Tôi trưỏng thành từ cái "nghề" ghi tin đọc chậm.
40 năm chiến tranh đã khép lại. Những đổi thay đang xóa dần sự đổ nát của một thời đạn bom. Nhưng hậu quả của chiến tranh nó cứ ám ảnh, làm day dứt lòng người, vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 26 tháng 12 năm 2014
Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016
Nhớ về mái trường xưa
Dù thời gian cứ trôi, dù cuộc sống đã trải qua bao thăng trầm, nhưng nhiều kỷ niệm đẹp về những tháng năm học tập và rèn luyện dưới mái trường thân yêu mang tên người thiếu niên anh hùng Lê Văn Tám vẫn mãi mãi còn đọng lại trong tôi...
Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng. Được mấy chú cho đi học văn hóa ỏ trường Lê Văn Tám thuộc Tiểu ban Giáo dục, Ban Tuyên huấn Tỉnh Sóc Trăng.
Khi học viên đã tập trung đầy đủ, các chú ở Tiểu ban Giáo dục triển khai chủ trương, nhiệm vụ của lớp, địa điểm cất trường và kế hoạch học tập...
Đây là lớp học đặc biệt, chỉ đào tạo văn hóa cho học viên sau này về công tác ở Ban Tuyên huấn Tỉnh Sóc Trăng.
Lớp có 20 học viên, 4 nữ, 16 nam, tuổi từ 13 đến 16, cái tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới", chủ yếu là con em cán bộ, bộ đội và gia đình cách mạng.
Lớp được chia thành 3 tổ, tôi được giao nhiệm vụ làm lớp trưởng. Thầy Quốc Việt vừa là giáo viên giảng dạy vừa phụ trách chung, cô Lài phụ trách y tế của lớp.
Sau khi nhận nhiệm vụ, thầy Quốc Việt cùng một vài anh em trong chúng tôi bơi xuồng tìm địa điểm, cây, lá để chuẩn bị cất trường.
Chúng tôi quyết định chọn vàm Cái Chanh, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân làm địa điểm cất trường.
Đây là khu rừng vùng sâu, chủ yếu là rừng tràm và lá dừa nước, không còn người ở vì sự ác liệt của đạn bom.
Chúng tôi chia nhau thành nhiều nhóm. Nhóm mấy anh nam, sức khỏe tốt thì lội vào rừng đốn tràm về làm cột, kèo, đòn tay, rui, mè; nhóm thì vào rừng đốn lá dừa nước về chầm lại để lợp nhà; nhóm khác thì phát hoang lau sậy, đào đấp nền trường, nhà ăn, nhà ở, hầm tránh bom. Chiến tranh mà! Còn cô Lài cùng các bạn nữ thì lo hậu cần, cơm nước.
Vất vả lắm vì công việc quá với sức của lứa tuổi chúng tôi. Nhưng rất vui vì mỗi người một việc, ai cũng cố gắng hết mình, đoàn kết, thương yêu, giúp nhau trong lao động.
Sau hơn một tuần khẩn trương, vất vả của thầy trò chúng tôi thì phòng học, nhà ăn, nhà ở cho học viên nam, nữ được dựng lợp hoàn chỉnh, khang trang, sạch đẹp. Hầm tránh bom cũng đào đắp xong, được ngụy trang rất cẩn thận, an toàn. Những con đường từ nhà ở, nhà ăn đến phòng học được nối với nhau bằng những cây cầu tràm.
Tôi vẫn luôn nghĩ, đây là ngôi trường đẹp đối với chúng tôi; ngôi trường với mái lá đơn sơ do thầy trò cùng xây cất, ngôi trường giản dị mà ẩn chứa biết bao điều tốt đẹp thân thương; nó gắn liền với tuổi mới xa gia đình, hòa vào cuộc sống lao động tập thể, chan chứa niềm tin và hy vọng.
Chiến tranh vẫn ác liệt, bom cày, đạn xới, vượt qua mọi hiểm nguy, gian khó, ngày ngày, chúng tôi lên lớp tiếp thu nhiều kiến thức quý báu từ người thầy kính yêu.
Thầy truyền thụ cho chúng tôi nhiều kiến thức vô cùng quý báu. Chúng tôi như nuốt lấy từng lời, từng chữ, từng câu. Đêm đêm, khi không nghe tiếng máy bay do thám, chúng tôi chia tổ học thêm bên những ngọn đèn dầu.
Không chỉ học văn hóa, chúng tôi còn phải học cách sử dụng súng trường, tuần tra cách gác, phòng gian bảo mật...Chiến tranh mà!
Có những giai đoạn chiến tranh ác liệt, thiếu gạo, thầy trò chúng tôi ăn uống kham khổ suốt nhiều tháng liền. Thức ăn chủ yếu là khô cá mặn, khoai rạng hoặc rau dệu nấu với nước lã cho bột ngọt vào làm canh...
Vất vả là thế, nhưng thầy trò chúng tôi vẫn sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tự tin, cố gắng trong học tập và rèn luyện.
Sau đó, trường chúng tôi được quyết định chuyển sang xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân.
Ở đây, chúng tôi mượn nhà bà con làm phòng học, sống chung với gia đình bà con - cùng ăn, cùng ở, cùng làm.
Thật đáng quý trước những nghĩa cử cao đẹp của người dân nơi đây, bà con sẵn sàng giúp đỡ, yêu thương, dạy dỗ chúng tôi như con cháu của chính mình. Bà con là chỗ dựa tinh thần, là mái ấm tình thương cho chúng tôi trong những tháng năm xa nhà!
Một năm học tập và rèn luyện, chúng tôi không chỉ đã biết đọc, biết viết, biết làm toán mà còn được rèn luyện tính tổ chức kỷ luật, lao động, biết sống hòa đồng trong một tập thể, biết đoàn kết, thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống, lao động và học tập; biết "yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ " và học được bài học làm người...
Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm chấm dứt chiến tranh
Cần Thơ, ngày 22 tháng 12 năm 2014
Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016
Ác mộng về chiến tranh
Chiến tranh đã khép lại gần 40 năm, nhân dân Việt Nam phải vượt qua bao khó khăn để xây dựng lại quê hương. Những đổi thay đang xoá dần sự đổ nát của một thời đạn bom, hàn gắn lại vết thương chiến tranh.
Nhưng có những vết thương mà gần nữa đời người rồi vẫn chưa hàn gắn được. Nỗi ám ảnh bởi những gì trải qua trong chiến tranh luôn gây cho tôi những cơn ác mộng khủng khiếp.
Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ rung trời của bom tấn, tiếng rền vang, xé gió của pháo bầy. Đồng đội, bạn bè, người dân vô tội đã ngã xuống vì đạn bom. Mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, tang thương chất chồng!
Chiến tranh là điều khủng khiếp và tàn nhẫn. Nó đã cướp đi thời niên thiếu của chúng tôi.
Mới 6 tuổi đầu, tôi đã chứng kiến một cuộc thảm sát kinh hoàng! Ngày 17 tháng 05 năm 1962, 24 người ở quê tôi, ấp Định Hòa, xã Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên đã bị lính biệt kích giết chết. Trong đó có 4 em nhỏ ở đoàn ca múa Ánh Hồng.
Họ bị giết bằng hành động rất dã man như: mổ mật, moi gan, cắt đầu, kéo xác thả trôi sông. Tiếng khóc tìm chồng, gọi cha nghe thảm thiết, xót thương!
Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng.
Chiến tranh vẫn ác liệt, trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.
Tôi vẫn còn kinh hoàng, vào sáng sớm ngày 16/1/1973, nhiều máy bay B52 ném hàng loạt bom tấn xuống ấp Ninh Định, xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Sóc Trăng sát hại nhiều người dân vô tội. Trong đó có 8 nghệ sĩ, nhạc công của Đoàn cải lương Chuông Vàng, 2 giáo viên ở Tiểu ban giáo dục và rất nhiều người thương vong.
Tôi đã đọc nhiều tài liệu viết về "Cuộc chiến Việt Nam”. Tất cả đều cho rằng đây là cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu và đầy nước mắt. Gần tám triệu người Việt Nam bị chết và bị thương tật. Hơn 4,8 triệu người bị di chứng chất độc da cam - đi-ô-xin trong đó hơn một triệu người đã chết và hơn 150.000 trẻ em thế hệ thứ hai, thứ ba bị di chứng chất độc đang từng ngày đau đớn. 58 nghìn binh lính Mỹ bị thiệt mạng, 300 nghìn người Mỹ bị tàn phế. Hàng chục nghìn người Mỹ và quân lính các nước chư hầu chịu hậu quả chất độc hóa học và di chứng chiến tranh tại Việt Nam...
Sống sót sau chiến tranh với những ký ức mà tôi không thể nào quên được. Bom, đạn đã làm tôi hết cả tuổi xuân.
Vết thương trên da thịt có thể được chữa lành, nhưng vết thương lòng của nhiều thế hệ vẫn còn rỉ máu. Lòng người vẫn chia cắt, hận thù vẫn còn là một hố sâu ngăn cách chưa thể hàn gắn. Hậu quả của chiến tranh nó cứ ám ảnh, day dứt lòng người.
Hãy tiếp tục tự chữa lành những vết thương lòng và hãy tha thứ, quên đi những bi kịch đau buồn của cuộc chiến tranh. Vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người!
Người ta sinh ra để mưu cầu hạnh phúc, chứ không phải đánh nhau và làm một cuộc chiến nhiều máu để giành quyền lực!
Các dân tộc cần được sống để thương yêu, hợp tác, giúp nhau cùng phát triển trong hòa bình!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 26 tháng 04 năm 2015
Viết nhân 40 năm, ngày giải phóng miền Nam
Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016
Trở về với ký ức tuổi thơ
Trở về với ký ức tuổi thơ
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc vùng đồng bằng sông nước Sóc Trăng. Lúc tôi còn nhỏ xíu xiu, thì ba tôi đã đi làm cách mạng, má tôi quanh năm chân lấm, tay bùn, thức khuya, dậy sớm, vất vả với ruộng đồng mà nuôi dạy 8 chị em tôi ăn học nên người!
Tuổi thơ tôi gắn liền với sông nước nặng tình phù sa, với những cánh đồng trải dài vô tận, thẳng cánh cánh cò bay.
Tôi luôn nhớ những luống cày, nhớ màu xanh non của mạ, nhớ cánh đồng vàng của mùa lúa chín, nhớ cả mùi rơm thơm khi đốt đồng, nhớ cả tiếng chim chiều, nhớ tiếng ếch nhái râm rang như khúc nhạc buồn trong đêm...
Cánh đồng là nơi mưu sinh, là sân chơi với nhiều kỷ niệm ngọt ngào và trong sáng, là nơi có những niềm vui, nỗi buồn của tuổi thơ tôi...
Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! "Ba", "Má" hai tiếng quá gần gũi, quá thân thương ngay từ những tiếng nói bập bẹ đầu đời. Là cả biển trời yêu thương, là sự hy sinh bất tận, là niềm vui, là hạnh phúc của đời tôi...
Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống, biết thương người với cái nghĩa, cái tình, biết kính trên, nhường dưới; giáo dục chúng tôi có thói quen “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, biết lễ giáo quanh mâm cơm…; biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống đời thường!
Ba tôi là người sống có tình cảm, có trách nhiệm với các con! Dù ở xa, dù bận nhiều việc nước, chiến tranh hay hòa bình, lúc nào cũng quan tâm đến các con. Tết, ba tôi không về, viết thư cho má và các con:
"Riêng Hồng, Tỷ, Lập, Nghiệp, Sở, Bằng và Tổng, Thúy,
Ba mừng các con một tuổi lớn nhanh hơn!"
Tuổi thơ tôi còn có biết bao kỷ niệm bên chiếc võng đu đưa, kẽo kẹt, nhịp nhàng lẫn trong tiếng ru ngân nga giữa trời đêm tĩnh mịch ở thôn quê nghe mênh mông rì rào tình cảm biết chừng nào...
"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi, khó đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua."
Những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con...
Má còn là tấm gương về sự công bằng. Vì đông con, nên mỗi lần má mua đồ ăn thì phải chia đều: mía mỗi người hai cây, khoai mỗi người hai củ, bánh in mỗi người hai cái...Gần đến Tết, má mua cho chị em tôi mỗi người một đôi dép, hai bộ quần áo mới để mặc đi thăm viếng ông, bà và để mặc cả năm.
Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Ngày ngày bắt ốc, hái rau. Có lần tham ăn rau đắng đồng tươi non xào với tép. Ăn nhiều đến bội thực! Đến mùa nước nổi, thì bắt nhái, cấm câu, lỗ mũi đầy lọ bởi ngọn đèn dầu!
Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!
Thu hoạch lúa gặp lúc trời mưa thì rất vất vả. Lúa ướt vớt lên chưa kịp phơi đã có mộng là chuyện thường. Có lần, Chế và Hia tôi, đảy xuồng đi chở lúa về. Bó lúa còn dài hơn cả người, chở đầy, chìm xuồng, lúa ướt, kéo lên phơi cả tuần chưa khô...
Chiến tranh, gia đình ly tán. Khói lửa đạn bom đã cướp đi tuổi thơ tôi!
Tuổi thơ tôi là thế đấy! Thèm lắm được một lần quay trở lại với tuổi thơ để được nũng nịu trong tình thương của má, để được sự che chở của ba, để chị em cùng quay quần bên nồi bánh Tết!
Nhớ lắm tuổi thơ ơi!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 09 tháng 12 năm 2014
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc vùng đồng bằng sông nước Sóc Trăng. Lúc tôi còn nhỏ xíu xiu, thì ba tôi đã đi làm cách mạng, má tôi quanh năm chân lấm, tay bùn, thức khuya, dậy sớm, vất vả với ruộng đồng mà nuôi dạy 8 chị em tôi ăn học nên người!
Tuổi thơ tôi gắn liền với sông nước nặng tình phù sa, với những cánh đồng trải dài vô tận, thẳng cánh cánh cò bay.
Tôi luôn nhớ những luống cày, nhớ màu xanh non của mạ, nhớ cánh đồng vàng của mùa lúa chín, nhớ cả mùi rơm thơm khi đốt đồng, nhớ cả tiếng chim chiều, nhớ tiếng ếch nhái râm rang như khúc nhạc buồn trong đêm...
Cánh đồng là nơi mưu sinh, là sân chơi với nhiều kỷ niệm ngọt ngào và trong sáng, là nơi có những niềm vui, nỗi buồn của tuổi thơ tôi...
Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! "Ba", "Má" hai tiếng quá gần gũi, quá thân thương ngay từ những tiếng nói bập bẹ đầu đời. Là cả biển trời yêu thương, là sự hy sinh bất tận, là niềm vui, là hạnh phúc của đời tôi...
Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống, biết thương người với cái nghĩa, cái tình, biết kính trên, nhường dưới; giáo dục chúng tôi có thói quen “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, biết lễ giáo quanh mâm cơm…; biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống đời thường!
Ba tôi là người sống có tình cảm, có trách nhiệm với các con! Dù ở xa, dù bận nhiều việc nước, chiến tranh hay hòa bình, lúc nào cũng quan tâm đến các con. Tết, ba tôi không về, viết thư cho má và các con:
"Riêng Hồng, Tỷ, Lập, Nghiệp, Sở, Bằng và Tổng, Thúy,
Ba mừng các con một tuổi lớn nhanh hơn!"
Tuổi thơ tôi còn có biết bao kỷ niệm bên chiếc võng đu đưa, kẽo kẹt, nhịp nhàng lẫn trong tiếng ru ngân nga giữa trời đêm tĩnh mịch ở thôn quê nghe mênh mông rì rào tình cảm biết chừng nào...
"Ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi, khó đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua."
Những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con...
Má còn là tấm gương về sự công bằng. Vì đông con, nên mỗi lần má mua đồ ăn thì phải chia đều: mía mỗi người hai cây, khoai mỗi người hai củ, bánh in mỗi người hai cái...Gần đến Tết, má mua cho chị em tôi mỗi người một đôi dép, hai bộ quần áo mới để mặc đi thăm viếng ông, bà và để mặc cả năm.
Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Ngày ngày bắt ốc, hái rau. Có lần tham ăn rau đắng đồng tươi non xào với tép. Ăn nhiều đến bội thực! Đến mùa nước nổi, thì bắt nhái, cấm câu, lỗ mũi đầy lọ bởi ngọn đèn dầu!
Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!
Thu hoạch lúa gặp lúc trời mưa thì rất vất vả. Lúa ướt vớt lên chưa kịp phơi đã có mộng là chuyện thường. Có lần, Chế và Hia tôi, đảy xuồng đi chở lúa về. Bó lúa còn dài hơn cả người, chở đầy, chìm xuồng, lúa ướt, kéo lên phơi cả tuần chưa khô...
Chiến tranh, gia đình ly tán. Khói lửa đạn bom đã cướp đi tuổi thơ tôi!
Tuổi thơ tôi là thế đấy! Thèm lắm được một lần quay trở lại với tuổi thơ để được nũng nịu trong tình thương của má, để được sự che chở của ba, để chị em cùng quay quần bên nồi bánh Tết!
Nhớ lắm tuổi thơ ơi!
Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 09 tháng 12 năm 2014
Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016
Hãy ý thức từ chuyện nhỏ, để chúng ta luôn sống tốt hơn!
Cuộc sống quanh ta có rất nhiều chuyện. Chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện tốt, chuyện xấu, chuyện chung, chuyện riêng, chuyện ăn, chuyện ở, sinh hoạt, đi lại, học hành, đối nhân, xử thế...
Chuyện nhỏ, rất đơn giản nhưng, luôn luôn và rất gần gũi trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.
Không phải là chuyện Quốc gia đại sự. Đây chỉ là chuyện nhỏ, và nhỏ nhưng lại đủ thứ chuyện.
Chuyện Nhỏ là trang ghi chép, là nơi lưu trữ những kỷ niệm vui, buồn mà mình đã từng trải qua trong cuộc sống và để tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, khắc sâu hơn những chuẩn mực, hành vi, đạo đức cần thiết cho bản thân.
Chuyện Nhỏ sẽ thu thập thêm thật nhiều những thông tin hữu ích cho con người, để chúng ta luôn học hỏi và hoàn thiện hơn trong cuộc sống.
Cuộc sống, có nhiều chuyện, dù là chuyện nhỏ, muốn nói với con, với cháu nhưng, không phải chuyện nào cũng có thể nói bằng lời. Thế nên, Chuyện Nhỏ vẫn còn lưu lại những trang ghi chép để chia sẻ cùng con, cùng cháu sau này.
Nếu nhờ đó mà có thể giúp cho con, cho cháu có thêm kiến thức từ thực tiễn cuộc sống mà lớn khôn, và sống tốt với mọi người thì đây cũng là một niềm vui và hạnh phúc của bản thân.
Vâng. Hãy ý thức từ chuyện nhỏ, để chúng ta luôn sống tốt hơn!
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016
Ký ức về một mái trường
Chiến tranh kết thúc, qua rồi một thời đội bom, đạp đạn, tôi được cơ quan cử đi học bổ túc văn hóa. Bỏ lại sau lưng sự tàn khốc của chiến tranh, tôi lại được cấp sách đến trường- Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang.
Bốn mươi năm, hơn nửa đời người, những ký ức về mái trường xưa lại hiện về, tôi như được sống lại những ngày tháng cũ, những ngày học trò hồn nhiên thơ mộng.
Dù thời gian cứ trôi, dù cuộc sống đã trải qua bao thăng trầm, nhưng nhiều kỷ niệm đẹp về thầy cô, bạn bè trong những tháng năm học tập và rèn luyện dưới mái trường thân yêu vẫn mãi mãi còn đọng lại trong tôi...
Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang được thành lập năm 1976. Bởi vì sau chiến tranh, nguồn cán bộ rất thiếu và yếu về văn hoá, việc thành lập Trường Bổ túc văn hóa đã thể hiện tầm nhìn và quan điểm mang ý nghĩa chiến lược của nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương.
Gọi là trường Bổ túc văn hóa Công nông vì mục đích đào tạo là nhằm nâng cao trình độ văn hóa (mỗi năm hai lớp) cho cán bộ đã tham gia kháng chiến và con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Bên cạnh việc học văn hóa, học viên còn được rèn luyện tính tổ chức kỷ luậ̣t, biết sống hòa đồng trong một tập thể, biết đoàn kết, giúp nhau trong cuộc sống, lao động và học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương sau chiến tranh.
Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy ngôi trường tọa lạc trên khu đất rộng có 3 tòa nhà một trệt, một lầu (được tiếp quản từ chế độ Sài Gòn) với 40 phòng đáp ứng yêu cầu học ba buổi: sáng, chiều, tối cho học viên. Gần đó, có một thư viện với hàng nghìn đầu sách đủ điều kiện phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu giảng dạy, học tập của thầy cô giáo và học viên.
Khu nhà tập thể với trên 100 phòng (cũng được tiếp quản từ khu gia binh chế độ Sài Gòn) dành cho 400 học viên nội trú. Có nhà ăn tập thể được trang bị đơn sơ phục vụ yêu cầu 3 bữa ăn hàng ngày cho học viên nội trú.
Thời tôi học, mọi thứ còn rất khó khăn. Việc phân phối hàng lương thực, thực phẩm theo kế hoạch: gạo 15 kg/tháng, thịt heo 1 kg/tháng, đường 0,8 kg /tháng, bột ngọt 0,3 kg /tháng, vải mặc 5 m/năm. Riêng chị em nữ được phân phối thêm 1 m vải mùng (bao cấp mà).
Có những lúc quá khó khăn, thầy trò chúng tôi ăn uống kham khổ suốt nhiều tháng liền. Thiếu gạo phải ăn bo bo, bột mì, khoai lang. Thức ăn chủ yếu là cá biển, rau muống nấu với nước lã cho bột ngọt vào làm canh... Vất vả là thế, nhưng thầy trò chúng tôi vẫn sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tự tin, cố gắng vươn lên dạy tốt, học tốt.
Chúng tôi luôn tự hào, một thời đã được làm học trò của một ngôi trường luôn vượt lên trên mọi khó khăn, thách thức với một đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên tâm huyết, tận tâm, tận lực, chí nghĩa, chí tình “tất cả vì học sinh thân yêu”.
“Không thầy đố mầy làm nên”. Đúng rồi, chính thầy cô đã cho chúng tôi tri thức, chính thầy cô đã dạy chúng tôi đạo lí làm người, chính thầy cô đã để lại tấm gương sáng về không màng danh lợi, không chuộng hư vinh, hết lòng đào tạo nhiều thế hệ học viên đã trưởng thành. Nhiều người đã trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nhân thành đạt...
Chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn thầy cô giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang!
Còn nhiều lắm, nhiều lắm những kỷ niệm về trường xưa… 40 năm nhìn lại, bâng khuâng với những kỷ niệm xưa, nghĩ về sự học ở hiện tại, kỳ vọng về một nền giáo dục trong tương lai!
Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm, ngày thành lập Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang
Cần Thơ, ngày 28 tháng 04 năm 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













.jpg)






